木蘭花令
初秋薄露回霜雁
金井梧桐黄色伴
青苔今又滿西階
小徑蟛蜞花已蔓
靜思閑坐觀烟散
陳舊粗茶泡數盞
樂夫天命復兮疑
知足心安乎粥飯
MỘC LAN HOA LỆNH
Sơ thu
bạc lộ hồi sương nhạn
Kim tỉnh
ngô đồng hoàng sắc bạn
Thanh
đài kim hựu mãn tây giai
Tiểu kính bành kì hoa dĩ mạn
Tĩnh
tư nhàn toạ quan yên tán
Trần cựu
thô trà phao sổ trản
Lạc
phù thiên mệnh phục hề nghi
Tri túc tâm an hồ chúc phạn
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 04/9/2026
Sương
nhạn 霜雁: một
loài nhạn lớn khi mùa thu tới bay về phương nam. Trong thi từ cổ, “sương nhạn”
biểu đạt ý tượng mùa thu.
Kim
tỉnh ngô đồng 金井梧桐: ngô
đồng bên giếng vàng.
Kim tỉnh
金井: tức giếng vàng.
Thời
cổ, người ta dùng gỗ gác từ dưới giếng lên để giữ cho vách giếng khỏi bị sụp,
phần nhô lên mặt đất gọi là “tỉnh lan” 井栏. Giếng
mà “tỉnh lan” có chạm trỗ gọi là “kim tỉnh” 金井.
Trong
thơ cổ và từ cổ Trung Quốc, thường bắt gặp hình ảnh cây ngô đồng bên giếng,
như:
Trong
Tặng biệt Xá nhân đệ Thai Khanh chi Giang
Nam 赠別舍人弟台卿之江南của Lí Bạch 李白có câu:
Ngô đồng lạc kim tỉnh
Nhất diệp phi ngân sàng
梧桐落金井
一叶飞银床
(Lá ngô đồng rụng xuống giếng vàng
Có lá còn bay đến bên giường bạc)
Trong Trường Tín oán (Kim tỉnh ngô đồng thu diệp hoàng) 长信怨 (金井梧桐秋叶黄) của Vương
Xương Linh 王昌龄 có câu:
Kim tỉnh ngô đồng thu diệp hoàng
Châu liêm bất quyển dạ lai sương
金井梧桐秋叶黄
珠帘不卷夜来霜
(Cây ngô đồng bên giếng vàng, lá vào thu đã trở vàng
Rèm châu không cuốn lên, đêm mang sương đến)
Trong
bài từ theo điệu Thái tang tử 采桑子 của Lí Dục 李煜 có câu:
Lộc lô kim tỉnh ngô đồng vãn
Kỉ thụ kinh thu
辘轳金井梧桐晚
几树惊秋
(Trời vào thu đã lâu, ngô đồng bên giếng vàng có
chiếc ròng rọc, lá rụng đầy
Mấy cây vào thu đổi sắc, người nhìn thấy thêm sầu)
Trong
“Truyện Kiều”, Nguyễn Du cũng đã viết:
Thú quê thuần hức bén mùi
Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô
(“Truyện Kiều” 1593 - 1594)
Bành
kì hoa 蟛蜞花: hoa
sài đất. “Sài đất” thuộc họ cúc, tên gọi khác là “cúc nháp” “ngổ núi”, “húng
trám”, thân bò lan, lá nhám, hoa vàng, mọc hoang ở bờ ruộng, nơi đất trống, thường
được dùng làm thảo dược. Nhân vì cây sài đất bò lan giống như con cáy bò nên
trong Trung văn gọi cây sài đất là “bành kì cúc” 蟛蜞菊. “Bành kì” 蟛蜞là con cáy.
Lạc phù thiên mệnh phục hề nghi 樂夫天命復奚疑: câu này mượn từ bài “Quy khứ lai hề từ “ 歸去來兮辭) của Đào Tiềm 陶潛:
聊乘化以歸盡,
樂夫天命復奚疑?
Liêu
thừa hoá dĩ quy tận, lạc phù thiên mệnh phục hề nghi?
(Thuận
theo tự nhiên mà đi hết lộ trình của cuộc đời, vui với mệnh trời còn nghi ngờ
gì nữa?)
Tri túc 知足: biết đủ, điển xuất từ từ Đạo đức kinh 道德經 của Lão Tử 老子:
Chương
44:
知足不辱,
知止不殆
Tri túc bất nhục,
tri chỉ bất đãi
(Biết thế nào là đủ thì không nhục,
biết lúc nào nên dừng thì không nguy)
Chương
45:
禍莫大於不知足
Hoạ mạc đại ư bất
tri túc
(Không hoạ nào lớn bằng không biết
thế nào là đủ)
Trong
“Cách ngôn liên bích” 格言联璧 bộ sách cách ngôn tập thành do Kim Anh 金缨 đời Thanh biên tập có chép:
要足何时足, 知足便足
求闲不得闲, 偷闲即闲
Yếu túc hà thời túc, tri túc tiện
túc.
Cầu nhàn bất đắc nhàn, thâu nhàn
tức nhàn.
(Muốn cho được đủ thì biết khi
nào mới đủ, biết đủ thì là đủ.
Cầu cho được nhàn thì không thể
có được nhàn, trong công việc bận rộn, tranh thủ lúc rảnh thì đó là nhàn)
Trong
bài “Chữ nhàn”, Nguyễn Công Trứ cũng đã viết:
知足便足, 待足何時足
知閒便閒, 待閒何時閒
Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời
túc?
Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà
thời nhàn?
(Biết đủ thì là đủ, đợi cho đủ
thì biết khi nào mới đủ?
Biết nhàn thì là nhàn, đợi được nhàn thì biết khi nào mới nhàn?)
Tạm dịch
Đầu
thu sương mỏng chim nhạn bay về phương nam
Cây
ngô đồng bên giếng làm bạn với sắc vàng
Rêu
nay đã xanh nơi bậc thềm phía tây
Khắp lối nhỏ hoa sài đất đã bò lan
Ngồi trầm
tư, nhìn làn khói nơi lò hương lan toả
Pha mấy li trà cũ
Vui với
mệnh trời còn nghi ngờ gì nữa
Biết
thế nào là đủ thì tâm cũng an dù cùng cơm cháo
