CHỮ “ẤM” 蔭 TRONG HÁN NGỮ
CỔ
Thụ ấm 樹蔭: bóng mát của cây.
Tuân Tử 荀子trong thiên “Khuyến học” 勸學viết
rằng:
Thụ thành ấm nhi chúng điểu
tức yên.
樹成蔭而眾鳥息焉
(Cây cối có bóng mát, thì bầy
chim mới bay đến nghỉ ngơi)
Khi 蔭 (ấm) dùng làm động từ, nó biểu
thị ý nghĩa toả bóng mát. Tả Tư 左思 trong “Vịnh sử thi” 詠史詩viết
rằng:
Dĩ bỉ kính thốn hành
Ấm thử bách xích điều.
以彼徑寸莖
蔭此百尺條
(Chỉ với một chồi cây chừng
một thốn
Mà toả bóng cả cây tùng cao
trăm xích)
Trong bài “Quy điền viên cư” 歸田園居của
Đào Tiềm 陶潛có câu;
Du liễu ấm hậu diêm
楡柳蔭後簷
Cây du cây liễu toả bóng mát
nơi thềm sau)
Từ đó dẫn đến ý nghĩa che chở. Thời phong kiến, nhân vì một
đại thần nào đó có công, hoàng đế sẽ ban ân huệ cho con cháu người đó (có thể
là một chức quan, hoặc hưởng một đặc quyền nào đó), gọi đó là “ấm” 蔭. Trong “Tuỳ
thư – Liễu Thuật truyện” 隋書 - 柳述傳có
câu:
Thiếu dĩ phụ ấm, vi thái tử
thân vệ.
少以父蔭,
爲太子親衛
(Lúc
trẻ nhờ phụ ấm (công lao của phụ thân) mà được làm hộ vệ thân cận bên thái tử).
Với ý nghĩa này, nhìn chung thường được viết là 廕 (ấm)
(nhưng với 蔭 (ấm) trong 樹蔭 (thụ ấm: bóng mát của cây) thì không thể viết là 廕. )Tra Kế
Tá 查繼佐 trong “Từ Quang Khải truyện” 徐光啟傳 đã viết:
Gia tặng Thiếu bảo, tịnh lưỡng
ấm.
加贈少保,
并兩廕
(Gia tặng hàm Thiếu bảo, cả
hai đời được hưởng)
(lưỡng ấm 兩廕: hai đời do ấm tập mà được chức quan)
Phân biệt chữ
蔽 (tế) và 蔭 (ấm)
Sự khác nhau giữa 蔽 (tế) và 蔭 (ấm) rất lớn.
-蔽 (tế) có thể che chắn cả phía trước
phía sau bên trái bên phải, như câu:
Dĩ thân dực tế Bái Công.
以身翼蔽沛公.
(Dùng cả tấm thân như chim
giương đôi cánh, che chắn cho Bái Công)
Cũng có thể che từ trên xuống
dưới, như câu:
Tinh kì tế không.
旌旗蔽空
(Cờ xí che rợp trời).
-蔭 (ấm) chỉ có thể che từ trên xuống dưới, hơn nữa là che mặt trời.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 08/9/2026
Nguyên tác Trung văn trong
CỔ ĐẠI HÁN NGỮ
古代漢語
(tập 4)
Chủ biên: Vương Lực 王力
Trung Hoa thư cục, 1998.
