阻險山峰萬劫重重鋪劍氣
狂洶水勢白藤滾滾起秋聲
Trở hiểm sơn phong, Vạn Kiếp trùng trùng phô kiếm
khí
Cuồng hung thuỷ thế, Bạch Đằng cổn cổn khởi thu thanh
(Nhân ngày giỗ Đức Thánh Trần 20/8 âm lịch)
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 30/9/2026
Trở hiểm 阻險: tức
hiểm trở.
Sơn phong 山峰: đỉnh
núi cao nhọn, nhìn giống như thanh kiếm vươn thẳng lên trời.
Vạn Kiếp 萬劫: nơi
đặt đại bản doanh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên Mông.
Phô 鋪: phô
ra, bày ra.
Kiếm khí 劍氣: hơi
lạnh toát ra từ thanh kiếm.
Cuồng hung 狂洶: thế
nước mạnh bạo, hung dữ.
Bạch Đằng 白藤: thuộc
Quảng Yên, bắt nguồn từ Phát Lại chảy ra cửa biển, nơi Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn trong trận Bạch Đằng (năm 1288) đã cho đóng hàng ngàn cây cọc gỗ lim bịt sắt
nhọn xuống lòng sông, đánh bại giặc Nguyên Mông.
Thu thanh 秋聲: mùa
thu thuộc hành kim. “Thu thanh” ở đây chỉ tiếng binh khí bằng kim loại va chạm
nhau phát ra thanh âm.
Âu Dương
Tu 歐陽修đời Tống trong bài “Thu thanh phú” 秋聲賦đã viết:
Dị
tai! Sơ tích lịch dĩ tiêu táp, hốt bôn đằng nhi phanh phái, kì xúc ư vật dã,
thông thông tranh tranh, kim thiết giai minh, hựu như phó địch chi binh, hàm
mai tật tẩu, bất văn hiệu lệnh, đản văn nhân mã chi hành thanh.
異哉! 初淅瀝以潚颯, 忽奔騰而砰湃, 其觸於物也, 鏦鏦錚錚, 金鐵皆鳴, 又如赴敵之兵, 啣枚疾走, 不聞號令, 但聞人馬之行聲.
(Lạ
thay! Lúc đầu rì rầm, vi vu, rồi chợt sầm sập mạnh mẽ , như sông nước kinh động
ban đêm, gió mưa thổi đến thình lình, chạm vào vật leng keng, loảng xoảng, tiếng
vàng tiếng sắt kêu vang, lại như đoàn quân tiến đến hàng ngũ địch, ngậm tăm chạy
mau, không nghe thấy hiệu lệnh, chỉ nghe thấy tiếng người, ngựa đi.)
(Bản
dịch của Trần Trọng San)
Cặp đối
này mượn ý từ cặp đối của Thám hoa Vũ Phạm Hàm đề tại đến Kiếp Bạc (Hải Dương).
Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục Đầu vô thuỷ bất thu thanh
萬劫有山皆劔氣
六頭無水不秋聲
Tạm dịch
Đỉnh núi nhọn hiểm trở, núi nơi Vạn Kiếp trùng trùng,
thấy tất cả hơi kiếm toả ra
Thế nước chảy hung dữ, sông Bạch Đằng cuồn cuộn,
nghe tiếng tiếng binh khí va chạm vang lên.
