TRỪNG CANH XUY TÊ
懲羹吹齏
(Vì nghi ngờ mà kinh sợ thái quá)
Xuất xứ: “Sở từ - Cửu chương - Tích tụng” 楚辭 - 九章 - 惜誦.
Trong thành ngữ “Trừng canh xuy tê” 齏 này, chữ 齏 (tê) bính âm là “jī”. “Tê” 齏 là một trong số những
món ăn. Đem gừng, tỏi, hành, hẹ băm nhỏ, trộn với tương, giấm thành gia vị gọi
là “tê” 齏, ngoài ra, cải muối
xắt nhỏ cũng gọi là “tê” 齏.
Chữ 齏 có nhiều cách viết,
đều đọc là “tê”, nhưng hiện nay nhìn chung công nhận chữ 齏dùng bộ 齊 (tề) thêm chữ 韭 (cửu) là chính thể.
Gọi là “Trừng canh xuy tê” 懲羹吹齏, hình dung vì
nghi ngờ mà kinh sợ thái quá, xuất từ “Sở từ - Cửu chương – Tích tụng” 楚辭 - 九章 - 惜誦:
Trừng ư canh giả
nhi xuy tê hề.
懲於羹者而吹齏兮
Ý
nói, một người sau khi bị bỏng miệng vì ăn món “canh” 羹nóng, gặp món “tê” 齏 lạnh cũng thổi qua
cho nguội rồi mới ăn.
Còn như gọi là “canh” 羹 đó là dùng thịt,
rau nấu lên thành món ăn đặc sệt, món này gọi là “canh” 羹. Do bởi nó đặc
cho nên nhìn từ bề mặt tựa hồ như đã nguội, nhưng thực tế vẫn còn rất nóng. Không
cẩn thận lúc ăn vào thường bị bỏng lưỡi; còn “tê” 齏 là chỉ cải muối xắt
nhỏ, món ăn này đa phần là ăn nguội.
Nhân đó, thành ngữ “Trừng canh xuy tê”
này ý nói một người lúc ăn món nóng do không cẩn thận bị bỏng miệng, một khi nhìn
thấy món ăn nguội lạnh, cũng cố ý dùng miệng thổi qua. Người đời sau đã cấp cho
nó nghĩa phái sinh: phàm gặp phải sự việc kinh sợ quá mức phải chú ý gọi đó là “Trừng
canh xuy tê”.
Ở “Phó Dịch truyện” 傅奕傳 trong “Đường
thư” 唐書có câu:
Trừng phí canh giả
xuy lãnh tê;
Thương cung chi điểu
kinh khúc thuỷ.
懲沸羹者吹冷齏
傷弓之鳥驚曲水
Vế trên đã giải thích như ở trên, vế dưới
ý nói chim sau khi bị qua tên bắn làm bị thương, từ trên cao nhìn thấy dòng nước
uốn cong nó cũng nghi đó là cây cung nên cảm thấy sợ hãi. Nhân đó người đời sau
đã dùng hai câu ví một số người gặp việc mà quá mức kinh sợ mà phải đề phòng.
Các nơi ở Trung Quốc cũng lưu hành câu
ngạn ngữ tương tự như thế:
Nhất triêu bị xà
giảo, thiên niên phạ thảo thằng.
一朝被蛇咬, 千年怕草繩
(Một buổi sáng bị rắn cắn, thì ngàn năm nhìn
thấy dây bện bằng cỏ cũng kinh sợ)
Ý
nghĩa của câu ngạn ngữ này cũng gần giống với hàm nghĩa của thành ngữ “Trừng
canh xuy tê”. Chỉ có điều khi chúng ta đọc hoặc viết thành ngữ, có mấy điểm cần
phải chú ý:
1-Chữ
懲 (trừng) trong “Trừng
canh xuy tê” 懲羹吹齏 là gồm chữ 徵 (trưng) và chữ 心 (tâm) , tổng cộng
19 nét, rất nhiều người viết thành 18 nét, tức chữ “trưng” 徵thiếu mất nét
ngang, cho nên cần chú ý để tránh viết sai.
2-Chữ
羹 (canh) trong “Trừng
canh xuy tê” 懲羹吹齏, bính âm là “gēng”,
không thể bính âm là “gēn”.
3-Chữ 齏 (tê) trong “Trừng canh xuy tê” 懲羹吹齏, cùng với chữ 齎 (tê) có nghĩa là mang cho, đem cho, có âm đọc như nhau,tự hình cũng rất giống nhau, nhưng ý nghĩa 2 chữ khác nhau, càng không thể viết thành 薺 (tề - bính âm “qí”) trong 薺 (bột tề - bính âm “bí qí”) tức cây mã đề.
Phụ
lục của người dịch
Trần Quốc Tuấn 陳國俊(Việt Nam) trong “Dụ chư tì
tướng hịch văn” 諭諸裨將檄文 có sử dụng thành ngữ
này:
Kim
dư minh cáo nhữ đẳng: Đương dĩ thố hoả tích tân vi nguy; đương dĩ trừng canh
xuy tê vi giới.
今余明告汝等當以措火積薪為危當以懲羹吹虀為戒
(Nay ta bảo thật các
ngươi: Nên lấy việc “đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ” làm nguy; nên lấy điều “kiềng
canh nóng mà thổi rau nguội” làm sợ.)
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 03/7/2026
Nguồn
MỖI NHẬT NHẤT TỪ
每日一辭
Biên soạn: Lâm Lê 林藜
Hoa Thị xuất bản
xã ấn hành
Trung Hoa Dân Quốc,
80 niên (1991)
