破陣子
萬里沙堆駿馬
千重海浪驍鷹
風雨路途多阻險
荆棘崎嶇任直衝
四時蒼柏松
鼙鼓聲聲月動
狼烟陣陣雲籠
碧水青山天地久
疊壘高城抗狄戎
黎元斧鉞雄
PHÁ TRẬN TỬ
Vạn lí
sa đôi tuấn mã
Thiên
trùng hải lãng kiêu ưng
Phong
vũ lộ đồ đa trở hiểm
Kinh cức
khi khu nhậm trực xung
Tứ thời thương bách tùng
Bề cổ
thanh thanh nguyệt động
Lang
yên trận trận vân lung
Bích
thuỷ thanh sơn thiên địa cửu
Điệp
luỹ cao thành ngự địch nhung
Lê nguyên phủ việt hùng
Huỳnh
Chương Hưng
Quy
Nhơn 26/4/2026
(Mùng 10 tháng 3 Bính Ngọ)
Sa
đôi 沙堆: đồi
cát.
Hải
lãng 海浪: sóng
biển.
Kinh
cức 荊棘: Ví nơi gian nan hiểm trở, hoặc
nơi chiến tranh loạn lạc. Nguyên vốn chỉ hai loại thực vật: “kinh” 荊 và “cức” 棘.
- Kinh 荊: là loại cây mọc thành bụi,
cành gốc cứng, ở chốn hoang vu lấp cả lối đi.
- Cức 棘: loại cây có nhiều gai, thường
móc vào áo người đi đường.
Ở chương
30 trong Lão Tử 老子có câu:
Sư chi sở xử, kinh cức sinh yên. Đại quân chi hậu, tất hữu
hung niên.
師之所處, 荊棘生焉.
大軍之後,
必有凶年.
(Nơi
quân đội đến, mọc đầy gai góc. Sau trận đại chiến tất bị mất mùa)
Khi
khu 崎嶇: gập
ghềnh.
Bề cổ 鼙鼓: cũng nói là “cổ bề” 鼓鼙chỉ chiến tranh động loạn. “Cổ” 鼓 là trống lớn, “bề” 鼙 là trống nhỏ, hai loại nhạc khí
thời cổ được dùng trong quân đội để phát hiệu lệnh tấn công.
Trong Lễ kí – Nhạc kí 禮記 - 樂記 có câu:
Quân tử thính cổ bề chi thanh,
tắc tư tướng soái chi thần.
君子聽鼓鼙之聲, 則思將帥之臣
(Bậc quân tử nghe tiếng trống lớn tiếng trống nhỏ, tất liên
tưởng đến vị tướng soái giỏi thống suất quân đội)
(Lễ kí dịch giải 禮記譯解 – quyển Thượng: Vương Văn Cẩm 王文錦dịch giải. Bắc Kinh: Trung Hoa
thư cục, 2007)
Và trong Trường hận ca 長恨歌 của Bạch Cư Dị 白居易:
Ngư Dương bề cổ động địa lai
Kinh phá nghê thường vũ y khúc
漁陽鼙鼓動地來
驚破霓裳羽衣曲
(Tiếng trống chiến tranh ở Ngư
Dương vang lên dậy đất
Làm kinh động khúc Nghê thường
Vũ y trong cung)
Lang
yên 狼烟: tín
hiệu cảnh báo quân sự sử dụng nơi biên phòng thời cổ, được đốt lên nơi “phong
hoả đài” 烽火台. Người ta thường cho “lang yên”
là khói được đốt từ phân của chó sói, khói này xông lên thẳng không dễ tán ra,
nhưng thực tế nhiên liệu chủ yếu là loại cây hồ dương 胡杨, cây hồng liễu 红柳 có
nhiều trong sa mạc.
Trong “Chinh phụ ngâm” bản chữ
Hán của Đặng Trần Côn có câu:
Cổ bề
thanh động Trường thành nguyệt
Phong
hoả ảnh chiếu Cam Tuyền vân.
鼓鼙聲動長城月
烽火影照甘泉雲
(Tiếng trống báo hiệu chiến
tranh vang lên làm lay động vầng trăng trên Trường thành.
Ngọn lửa báo hiệu chiến tranh
chiếu đến mây ở cung Cam Tuyền)
Bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm diễn ca” tương
truyền của Đoàn Thị Điểm là:
Trống Trường thành lung lay
bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Lê
nguyên 黎元: tức bách tính, dân chúng. Điển
xuất từ trong Xuân Thu phồn lộ 春秋繁露 của
Đổng Trọng Thư 董仲舒đời Hán:
Cứu chi giả, tỉnh cung thất, khứ điêu văn, cử hiếu đễ, tuất
lê nguyên.
救之者,
省宮室,
去雕文,
舉孝悌 恤黎元
(Cách để cứu giúp đó là giảm bớt cung thất, bỏ đi những chạm
khắc rườm rà, tuyển chọn tiến cử những người hiếu đễ, chu cấp cho dân nghèo khổ)
Phủ việt 斧鉞: hai loại binh khí thời cổ.
Tạm dịch
Đồi
cát muôn dặm tuấn mã vượt qua
Sóng
biển ngàn trùng chim ưng lướt tới
Đường
đi mưa gió nhiều hiểm trở
Gai
góc gập ghềnh cứ thẳng xông
Kiên cường như cây tùng cây bách bốn mùa xanh tốt.
Trống
trận từng tiếng vang lên làm lung lay vầng trăng
Khói
lang từng đợt xông lên phủ trùm mây nổi.
Nước
biếc non xanh vẫn trường tồn cùng trời đất
Thành
cao luỹ dài ngăn chống kẻ địch xâm lăng
Bách
tính với binh khí phủ việt mãi anh hùng
