Sáng tác: Cảm đề - Hải khoát thiên trùng thôi bạch lãng (HCH)

 

感題

海闊千重推白浪

天高萬頃動浮雲

人間烟雨與風塵

五十載頻頻多阻險

躑躅花開紅色染

子規啼嘯夜飄霜

月時圓刻漏更長

金風起蒓鱸香已熟

幾度斜暉荒徑菊

流光苔綠上階空

井邊葉落梧桐

CẢM ĐỀ

Hải khoát thiên trùng thôi bạch lãng

Thiên cao vạn khoảnh động phù vân

Nhân gian yên vũ dữ phong trần

Ngũ thập tải tần tần đa trở hiểm

Trịch trục hoa khai hồng sắc nhiễm

Tử quy đề khiếu dạ phiêu sương

Nguyệt thời viên khắc lậu canh trường

Kim phong khởi thuần lư hương dĩ thục

Kỉ độ tà huy hoang kính cúc

Lưu quang đài lục thướng giai không

Tỉnh biên diệp lạc ngô đồng

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 30/4/2026 

Trịch trục 躑躅: biệt danh của hoa đỗ quyên.

Hoa đỗ quyên có nhiều biệt danh, đời Đường có 5 tên gọi như sơn thạch lựu 山石榴, sơn lựu 山榴, Sơn Trịch Trục 山踯躅, trịch trục 踯躅, hồng trịch trục 红踯躅.

          Sơn Thạch Lựu nhất danh sơn trịch trục, nhất danh đỗ quyên hoa, đỗ quyên đề thời hoa phốc phốc.

                                          (Bạch Cư Dị - Sơn Thạch Lựu ký Nguyên Cửu)

山石榴一名山踯躅, 一名杜鹃花, 杜鹃啼时花扑扑

                                                 (白居易 - 山石榴寄元九)

          (Sơn thạch lựu còn có tên là sơn trịch trục, một tên khác là đỗ quyên, khi chim đỗ quyên kêu, hoa trổ rực rỡ)

Ngũ Độ khê đầu trịch trục hồng.

                                          (Trương Tịch – Ký Lý Bột)

五度溪头踯躅红

                             (张籍 - 寄李渤)

(Nơi đầu khe Ngũ Độ hoa trịch trục nở hồng)

(“Hoa dữ văn học” 花与文学: Giả Tổ Chương 贾祖璋. Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 2001)

Trịch trục 躑躅: Lẩn quẩn, đi tới đi lui.

Trong quyển Bản thảo kinh tập chú 本草经集注 Đào Hoành Cảnh 陶宏景 đã viết:

          Dương Trịch Trục (tức hoàng đỗ quyên), dương thực kỳ diệp, trịch trục nhi tử.

羊踯躅 (即黄杜鹃), 羊食其叶, 踯躅而死

          (Dương trịch trục (tức đỗ quyên vàng), dê ăn phải lá của nó, chân lẩn quẩn đi không được mà chết)

Tử quy 子規: Tên một loài chim, còn gọi là “Đỗ vũ” 杜宇, “Tứ thanh đỗ quyên” 四聲杜鵑, “Thôi quy” 催歸. Loài chim này thường hướng về phương bắc mà kêu, tháng 6 tháng 7 kêu càng nhiều, ngày đêm không nghỉ, âm thanh phát ra nghe buồn, giống như mong con trở về, cho nên gọi là “Đỗ quyên đề quy”. 子規 (Tử quy) cũng viết là 子歸. 

Truyền thuyết kể rằng ngày xưa ở nước Thục có một vị vua tên là Đỗ Vũ 杜宇 rất yêu thương hoàng hậu. Sau vua bị gian thần hãm hại chết oan ức hồn hoá thành chim Đỗ quyên, hàng ngày cất lên những tiếng kêu ai oán trong vườn hoa của hoàng hậu. Nước mắt rơi xuống là từng giọt máu tươi, nhuốm đỏ các cánh hoa xinh đẹp, cho nên người đời sau gọi đó là hoa Đỗ quyên.

          Hoàng hậu nghe được tiếng kêu ai oán của chim Đỗ quyên, thấy được máu tươi rỏ xuống mới biết đó là linh hồn của chồng mình hoá thành. Do quá đau buồn, ngày đêm gào lên: “tử quy, tử quy” nên cuối cùng cũng qua đời, linh hồn của bà hoá thành loài hoa Đỗ quyên đỏ như lửa nở đầy khắp núi đồi. Hoa Đỗ quyên cùng chim Đỗ quyên luôn gần nhau cho nên hoa Đỗ quyên cũng còn được gọi là Ánh sơn hồng. Đây chính là điển cố “Đỗ quyên đề huyết” 杜鵑啼血 (Đỗ quyên kêu rỏ máu), “Tử quy ai minh” 子規哀鳴 (chim Tử quy kêu ai oán). Lí Bạch ở bài Tuyên Thành kiến Đỗ quyên hoa 宣城見杜鵑花 (có thuyết cho là của Đỗ Phủ) viết rằng:

Thục quốc tằng văn Tử quy điểu,

 Tuyên thành hoàn kiến Đỗ quyên hoa

Nhất khiếu nhất hồi trường nhất đoạn

Tam xuân tam nguyệt ức Tam Ba

蜀国曾闻子规鸟

宣城还见杜鹃花

一嘯一回腸一斷

三春三月憶三巴

(Nơi nước Thục từng nghe tiếng chim Tử quy,

Nay ở Tuyên thành lại thấy hoa Đỗ quyên

Nghe chim kêu từng tiếng mà đứt từng đoạn ruột

Ba xuân ba tháng nhớ mãi đến Tam Ba)

Tam Ba tức Ba quận 巴郡, Ba Đông 巴東, Ba Tây 巴西, chỉ nước Thục, nay là Tứ Xuyên.

Kim phong 金風: gió từ hướng tây thổi đến, tức gió thu. Lấy ngũ hành “mộc , hoả , thổ , kim , thuỷ ” phối cùng bốn mùa. Thu thuộc kim, nên gió thu có tên là “kim phong”.

Thuần lư 蒓鱸: Điển xuất từ thành ngữ “Thuần lư chi tư” 莼鲈之思, hình dung tình cảm nhớ quê hương.

          Thuần  là tên một loại rau; lư  là tên một loại cá. Thành ngữ “Thuần lư chi tư” liên quan đến câu nói của Trương Hàn 张翰 thời Tây Tấn:

        Trương Hàn 张翰 tự Quý Ưng 季鹰, người Ngô Giang 吴江, là một tài tử, thi thư đều giỏi. Nói đến Trương Hàn, người ta thường nhắc đến món rau thuần và cá lư. Trong Tấn thư – Trương Hàn truyện 晋书 - 张翰传 có viết:

          Trương Hàn tại Lạc, nhân kiến thu phong khởi, nãi tư Ngô Trung uyển thái thuần canh, lư ngư quái, viết: ‘Nhân sinh quý thích chí, hà năng ki hoạn sổ thiên lí dĩ yếu danh tước hồ!’ Toại mệnh giá nhi quy.

          张翰在洛因见秋风起乃思吴中苑菜莼羹鲈鱼脍: ‘人生贵适志何能羁宦数千里以要名爵乎!’ 遂命驾而归.

          (Trương Hàn lúc ở tại ấp Lạc, thấy gió thu nổi lên, liền nhớ tới món canh rau thuần, thịt cá lư thái nhỏ ở quê nhà Ngô Trung, bèn nói rằng: ‘Đời người quý ở chỗ được theo chí của mình, sao lại vì việc mưu cầu công danh tước vị mà trói buộc thân mình nơi xa ngàn dặm.’ Bèn sai thị tùng đóng ngựa trở về quê nhà)

http://www.huaxia.com/wh/zsc/2006/00518530.htmlg

Hoang kính cúc 荒徑菊: mượn ý từ câu trong bài Quy khứ lai từ 歸去來辭của Đào Tiềm 陶潛:

Tam kính tựu hoang, tùng cúc do tồn

三徑就荒, 松菊猶存

(Ba lối nhỏ sắp hoang vu, nhưng tùng cúc hãy còn đó)

Lưu quang 流光: thời gian trôi đi như nước chảy.

Tạm dịch

CẢM ĐỀ

Biển rộng ngàn trùng xô sóng trắng,

Trời cao muôn khoảnh động mây trôi.

Chốn nhân gian mưa khói với phong trần,

Năm mươi năm nhiều gian khó.

Hoa đỗ quyên đã nở một sắc hồng,

Chim tử quy kêu trong đêm sương xuống.

Trăng khuya đang độ tròn,

Gió thu nổi lên, mùi thơm rau thuần cá lư đã đậm.

Mấy độ nắng chiều rơi trên khóm cúc bên lối vắng,

Thời gian trôi nhanh, rêu đã lên xanh bò lan nơi bậc thềm vắng.

Bên giếng cây ngô đồng lá rụng. 

Previous Post Next Post