YÊU TRIỀN VẠN QUÁN
Người
xưa gọi công tác phí hoặc chi phí đi lại là “bàn triền” 盘缠. Nhìn chung, một người khi ra ngoài làm việc phải
mang theo “bàn triền”, từ ngữ tương quan với nó có “Yêu triền vạn quán” 腰缠万贯 (bên hông giắt vạn xâu tiền), hình dung tài thì đại nhưng
khí lại thô. Thế thì tại sao tiền tài lại có quái danh “bàn triền”? thời cổ có tiền
phải là giắt ở bên hông?
Điều này
cần phải bắt đầu nói từ hình trạng của tiền. Tiền cổ nhìn chung là ngoài tròn
trong vuông, loại tiền tệ đúc bằng kim loại mà ở giữa có lỗ, thường lấy dây xâu
lại, cứ 1.000 tiền thành một xâu, xâu tiền gọi là “quán” 贯, cho nên, 1000 tiền gọi là 1 xâu tiền hoặc 1 quán tiền.
Người xưa mỗi khi ra khỏi nhà, chỉ có thể mang theo tiền đồng xâu thành xâu, đem
xâu tiền đó quấn tròn lại rồi giắt bên hông, vừa tiện vừa an toàn, nhân đó người xưa
tiền đi đường vừa “bàn” 盘 (quấn tròn) vừa “triền” 缠 (giắt bên hông)
gọi là “bàn triền”.
Thành
ngữ “Yêu triền vạn quán” 腰缠万贯xuất từ “Tiểu
thuyết – Ngô Thục nhân” 小说 - 吴蜀人của Ân Vân 殷芸thời Nam triều:
Hữu
khách tương tùng, các ngôn sở chí. Hoặc nguyện vi Dương Châu Thứ sử, hoặc nguyện
đa ti tài, hoặc nguyện kị hạc thướng thăng. Kì nhất nhân viết: ‘yêu triền thập
vạn quán, kị hạc thướng Dương Châu. Dục kiêm tam giả.’
有客相从, 各言所志. 或愿为扬州刺史, 或愿赀财, 或愿骑鹤上升. 其一人曰: ‘腰缠十万贯, 骑鹤上扬州. 欲兼三者’.
(Có mấy
người khách đi cùng với nhau, mỗi người nói lên chí hướng của mình. Có người nói
muốn làm Thứ sử Dương Châu, có người muốn được nhiều tiền, có người lại muốn cưỡi
hạc bay lên trời trở thành thần tiên. Trong đó dó một người nói rằng: ‘Bên hông
đeo 10 vạn quan tiền, cưỡi hạc bay đến Dương Châu. Muốn được gồm của cả ba người kia.’
Trong xã hội hiện đại do bởi lưu hành tiền giấy, không thể đem tiền giắt bên người, nhưng từ “bàn triền” 盘缠vẫn còn được dùng đến nay.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 16/4/2026
Nguyên tác Trung văn
Trong quyển
THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
趣味文化知识大全
Thanh Thạch 青石 biên
soạn
Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã,
2013
