CÂU “QUẢI DƯƠNG ĐẦU
MẠI CẨU NHỤC”
NGUYÊN LÀ “HUYỀN NGƯU THỦ MẠI MÃ NHỤC”
Câu “Quải dương đầu mại cẩu nhục” 挂羊头卖狗肉 (treo đầu dê bán
thịt chó) ai ai cùng rõ, người đời nay đa phần dùng để chỉ hành vi khi trá,
danh và thực không phù hợp, hoặc thích dùng danh nghĩa để làm chiêu bài quảng cáo,
thực tế lại là buôn bán hàng giả kém chất lượng. Đây là nghĩa ẩn dụ cơ bản ở hiện
tại, nhưng lúc ban đầu ý nghĩa của câu này khác với hiện nay, và cũng không có
lên quan gì với đầu dê và thịt chó.
Trong văn hiến cổ đại có chép, câu này
được thấy đầu tiên ở “Án Tử xuân thu” 晏子春秋.
Trong sách này ở “Nội thiên tạp hạ đệ lục” 内篇杂下第六có câu chuyện “Linh Công cấm phụ nhân
vị trượng phu sức bất chỉ Án Tử thỉnh tiên nội vật phục đệ nhất” 灵公禁妇人为丈夫饰不止晏子请先内勿服第一, nói rằng Tề Linh
Công 齐灵公 (trong “Thuyết uyển”
说苑là Cảnh Công 景公) có một thị hiếu
lạ, thích thấy con gái trong cung mặc trang phục đàn ông. Ai ngờ con gái ngoài
cung cũng nhân đó mà mặc trang phục đàn ông. Linh Công không vui lòng, liền phái
quan viên đi ngăn cấm phong khí con gái ngoài cung mặc trang phục đàn ông, đồng
thời ra chỉ lệnh rằng “Nếu cứ kiên trì mặc trang phục đàn ông, sẽ xé y phục, cắt
giải áo của họ.” nhưng hiệu quả không tốt, không có biện pháp nào để cấm chỉ hoàn
toàn. Thế là cho gọi Án Tử đến thỉnh giáo.
Án Tử nói với Linh Công:
-Ngài bảo con gái trong cung mặc
trang phục đàn ông, mà lại cấm con gái ngoài cung mặc, việc đó giống như ngoài
cửa treo đầu trâu, nhưng trong cửa lại bán thịt ngựa (huyền ngưu thủ vu môn,
nhi mại mã nhục vu nội dã 悬牛首于门而卖马肉于内也). Muốn cấm chỉ phong khí đó, chỉ có trước
tiên là bảo con gái trong cung không mặc trang phục đàn ông, ngoài cung tự nhiên
sẽ không mặc.
Linh Công theo cách của Án Tử. một tháng
sau, con gái ngoài cung không còn mặc trang phục đàn ông nữa.
Trong câu chuyện này, câu mà ngày nay
chúng ta thường nói là “Quải dương đầu mại cẩu nhục” 挂羊头卖狗肉 nguyên là “Huyền ngưu thủ mại mã nhục” 悬牛首卖马肉: nguyên ý cũng chỉ
là câu chuyện con gái trong và ngoài cung mặc trang phục đàn ông, phê bình Linh
Công trong cách đối nội và đối ngoại có sự tương phản mà thôi, khác với hành vi
khi trá ở ngày nay. Lúc ban đầu hình thành câu này, kì thực cách viết cũng không
nhất trí, trừ “Huyền ngưu thủ mại mã nhục” 悬牛首卖马肉 ra, còn có “Huyền ngưu cốt mại mã
nhục” 悬牛骨卖马肉 trong “Thuyết
uyển – Chính lí” 说苑政理, câu “Huyền ngưu đầu mại mã bô” 悬牛头卖马脯 trong “Hậu Hán
thư – Bách quan tam” 后汉书 - 百官三 ở “Thượng thư lệnh sử” 尚书令史 dẫn lời chú trong “Quyết
lục chú” 决录注 , cùng với “Huyền
dương đầu mại mã bô” 悬羊头卖马脯 trong “Thông tục biên” 通俗编 quyển 28 … Mấy cách
viết khác nhau này diễn biến thành “Quải dương đầu mại cẩu nhục” 挂羊头卖狗肉 cuối cùng mới được
định hình, ý nghĩa ẩn dụ của nó cũng nhân đó mà biến thành lường gạt khi trá.
Nghĩa ẩn dụ cơ bản hiện nay, nhìn từ câu:
Khởi hiệu tương
khi mạn
Huyễn ngưu cô mã bô
岂效相欺谩
衒牛沽马脯
(Há học theo cách
khi trá khinh mạn
Nói là trâu nhưng
bán thịt ngựa khô)
trong
“Tống Liễu Tử Ngọc” 送柳子玉của Tô Triệt 苏辙,
cơ hồ như muộn nhất là vào triều Tống đã hình thành. Hoặc cũng có thể là vào
triều Tống, câu này trong Thiền tông ngữ lục của Phật giáo đương thời cuối cùng
định hình là “Quải dương đầu mại cẩu nhục” 挂羊头卖狗肉 như hiện nay chúng
ta thường nói.
…………….
Cuối cùng, thử tìm hiểu tại sao định hình
là “quải dương đầu” 挂羊头 (treo đầu dê). Nghiên
cứu tìm hiểu, e là có liên quan mật thiết với tập tục cho thịt dê là mĩ thực
trong văn hoá ầm thực của Trung Quốc.
“Dương” 羊 (dê) là một trong những
động vật ban đầu săn bắn, thuần phục đồng thời nuôi dưỡng. Trong “Thuyết văn”
说文 giải thích 羊 (dương) là 祥(tường),
mà nghĩa của 祥 (tường) là phúc.
Hứa Thận 许慎cho rằng, chữ 祥 (tường) có 示 (thị), 羊(dương)
là thanh phù. Kì thực, 羊 (dương) trừ biểu
thanh ra còn “biểu nghĩa” nữa. 示 (thị) là thần, 羊 (dương) kiêm biểu
nghĩa hiến tế, cho nên ý nghĩa của 祥 (tường) chính là dùng 羊 (dương) làm tế phẩm hướng đến thần linh cầu phúc. Từ Hạo
徐灝 đời Thanh trong “Thuyết
văn Đoàn chú tiên” 说文段注笺 có nói:
Cổ vô “tường” tự,
giả “dương” vi chi.
古无祥字, 假羊为之
(Thời cổ không có
chữ ‘tường”, mượn chữ “dương” để thay)
Bản thân nghĩa của 羊 (dương) lúc ban đầu
cũng có ý nghĩa cát tường. Cho nên ở quẻ Thái 泰 trong “Dịch kinh” 易經có câu:
Tam dương khai thái
三阳开泰
Dân gian thường viết là 三羊开泰 (tam dương khai
thái), chính là hi vọng mượn ý nghĩa cát tường của “dương”để biểu đạt nguyện vọng
quốc thái dân an.
“Dương” (dê) được chọn làm tế phẩm, nói
về việc dùng làm thực phẩm thì “dương” là mĩ vị, cho nên chữ 美 (mĩ) có 羊 (dương), “Thuyết
văn” 说文 giải thích “mĩ” 美 là “cam” 甘 (ngon ngọt). Một số
chữ có tổ hợp “dương” 羊trong
Hán văn, đa số đều liên quan đến mĩ vị, như 鮮 (tiên: tươi ngon),
羹 (canh: món canh thịt),
馐 (tu: món ăn ngon).
Ở phương bắc Trung Quốc, mùa đông đến
xem lẩu thịt dê nhúng là “mĩ thực”, xiên que thịt dê nướng ở Tân Cương 新疆ngày nay cũng trở
thành mĩ vị đường phố.
Những điều trên nói rõ, trong văn hoá ẩm thực Trung Quốc, thịt dê là mĩ thực truyền thống. Chính nhân vì “dương” 羊 (dê) vừa có nghĩa cát tường, lại là món ngon, cho nên một khi dưới bảng hiệu “đầu dê” mà lại mua phải “thịt chó”, chính là bị lường gạt. Đó có thể chính là nguyên do nghĩa ẩn dụ lường gạt khi trá của câu “Quải dương đầu mại cẩu nhục” phát sinh sau này.
Huỳnh Chương Hưng
Quy nhơn 05/3/2026
Nguồn
HÁN TỰ LÍ ĐÍCH
TRUNG QUỐC
汉字里的中国
Tác giả: Trần Bích
Diệu 陈璧耀
Thượng Hải: Thượng
Hải Viễn đông xuất bản xã, 2017
