徴女王
峯州雒將女兒
二徴氣概現其激昂
北方太守貪殘
法繩逼眾世間不平
二徴姊妹舉兵
九眞合浦同情揭竿
决心逐定北還
嶺南占據地盤稱王
誰知馬援北方
隨山刊道兵强來侵
二徵孤勢迎鋒
禁溪退守以防豺狼
基圖國統江山
春秋自此復還衰微
TRƯNG NỮ VƯƠNG
Phong Châu lạc tướng nữ nhi
Nhị Trưng khí khái hiện kì kích ngang
Bắc phương Thái thú tham tàn
Pháp thằng bức chúng thế gian bất bình
Nhị Trưng tỉ muội cử binh
Cửu Chân Hợp Phố đồng tình yết can
Quyết tâm trục Định bắc hoàn
Lĩnh Nam chiếm cứ địa bàn xưng vương
Thuỳ tri Mã Viện bắc phương
Tuỳ sơn san đạo binh cường lai xâm
Nhị Trưng cô thế nghinh phong
Cấm Khê thoái thủ dĩ phòng sài lang
Cơ đồ quốc thống giang san
Xuân thu tự thử phục hoàn suy vi
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 31/01/2026
Kích
ngang 激昂: sục sôi (nghĩa khí).
Pháp
thằng 法繩: dùng pháp luật để trói buộc.
Yết
can 揭竿: dựng tre làm cờ, điển xuất từ thành ngữ “yết can
vi kì” 揭竿为旗.
Trong “Quá Tần luận” 过秦论 của Giả Nghị 贾谊thời Tây Hán có câu:
Trảm mộc vi binh, yết can vi kì.
斩木为兵, 揭竿为旗
(Chặt cây làm binh khí, dựng tre làm cờ)
Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” cũng đã viết:
揭竿爲旗,氓隸之徒四集
投醪饗士,父子之兵一心
Yết can vi kì, manh lệ chi đồ tứ tập
Đầu lao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất
tâm
(Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần
trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước
sông chén rượu ngọt ngào)
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Thuỳ tri 誰知: ai
ngờ, nào ngờ.
Tuỳ
sơn san đạo 隨山刊道: men theo núi san phẳng làm đường.
Trong “Đại Việt sử kí toàn thư” 大越史記全書 chép rằng:
(王甚雄勇, 逐蘇定, 建國稱王. 然以女主不能成再造之功.)
諱側, 姓徴, 本姓雒, 峯州糜冷縣, 雒將之女, 朱鳶縣詩索之妻也. (詩索亦雒將之子, 兩將子相為婚姻. “綱目集覽” 以雒為姓, 誤矣.)都麋泠.
庚子元年 (漢建武十六年) 春二月, 王苦太守蘇定繩以法, 及讐定之殺其夫, 乃與其妹貳舉兵攻陷州治, 定奔還. 南海, 九眞, 日南, 合浦皆應之, 畧定嶺南六十五城, 自立為王, 始稱徴姓焉.
辛丑二年 (漢建武十七年) 春二月晦日食. 漢以徴氏稱王, 舉兵攻陷城邑, 邊郡苦之, 乃命長沙, 合浦及我交州具車船, 修橋道, 通障溪, 儲粮穀, 拜馬援為伏波將軍, 以扶樂侯為副來侵.
壬寅三年 (漢建武十八年) 春正月, 馬援沿海而進, 隨山刊道千餘里至浪泊上 (羅城西街之西名浪泊) 與王戰. 王見虜勢大張, 自虔烏合之眾, 恐不能支, 退保禁溪 (禁溪,史作金溪). 眾亦以王女子, 慮不能勝敵, 遂走散. 國統復絕.
(Vương thậm hùng dũng, trục Tô Định, kiến quốc xưng
vương. Nhiên dĩ nữ chủ bất năng thành tái tạo chi công)
Huý Trắc, tính Trưng, bổn tính Lạc, Phong Châu Mê (mi) Linh
huyện, Lạc tướng chi nữ, Chu Diên huyện Thi Sách chi thê dã (Thi Sách diệc lạc
tướng tử, lưỡng tướng tử tương vi hôn nhân, “Cương mục tập lãm” dĩ Lạc vi tính,
ngộ hĩ), đô Mê (mi) Linh.
Canh
Tí nguyên niên (Hán Kiến Vũ thập lục niên), xuân nhị nguyệt, Vương
khổ Thái thú Tô Định thằng dĩ pháp, cập thù Định chi sát kì phu, nãi dữ kì muội
Nhị cử binh công hãm châu trị, Định bôn hoàn. Nam Hải Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp
Phố giai ứng chi, lược định Lĩnh Nam lục thập ngũ thành, tự lập vi vương, thuỷ
xưng Trưng tính yên.
Tân
Sửu nhị niên (Hán Kiến Vũ thập thất
niên), xuân nhị nguyệt hối nhật thực. Hán dĩ Trưng thị xưng vương, cử binh công
hãm thành ấp, biên quận khổ chi, nãi mệnh Trường Sa, Hợp Phố cập ngã Giao Châu
cụ xa thuyền tu kiều đạo thông chướng khê, trừ lương cốc, bái Mã Viện vi Phục
Ba tướng quân, dĩ Phù Lạc Hầu Lưu Long vi phó lai xâm.
Nhâm
Dần tam niên (Hán Kiến Vũ thập bát niên),
xuân Chinh nguyệt, Mã Viện duyên hải nhi tiến, tuỳ sơn san đạo thiên dư lí, chí
Lãng Bạc thượng (La thành tây nhai chi tây danh Lãng Bạc), dữ Vương chiến.
Vương kiến lỗ thế đại trương, tự kiền ô hợp chi chúng, khủng bất năng chi,
thoái bảo Cấm Khê (Cấm Khê sử tác Kim Khê). Chúng diệc dĩ Vương nữ tử lự bất
năng thắng địch, toại tẩu tán. Quốc thống phục tuyệt,
(Vương rất hùng dũng, đuổi Tô Định, dựng nước xưng vương,
nhưng vì là vua đàn bà, không thể làm nên côn tái tạo.)
Tên huý là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc
tướng huyện Mê Linh (1), Phong Châu, là vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên (2).
(Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau. Sách “Cương
mục tập lãm” lấy Lạc làm họ là lầm). Đóng đô ở Mê Linh.
Canh
Tý, năm thứ 1 (Hán Kiến Vũ năm
thứ 16). Mùa xuân tháng 2 , vua khổ vị Thái Thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc,
lại thù Định giết chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị
sở ở châu. Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều
hưởng ứng, lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua, mới xưng là họ Trưng.
Tân
Sửu, năm thứ 2 (Hán Kiến Vũ năm
thứ 17). Mùa xuân, tháng 2, ngày 30, nhật thực. Nhà Hán thấy họ Trưng xưng
vương, dấy quân đánh lấy các thành ấp, các quận biên thuỳ bị khổ, mới hạ lệnh
cho Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu ta sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường,
thông các núi khe, chứa thóc lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc
hầu Lưu Long làm phó sang xâm lược.
Nhâm
Dần, năm thứ 3 (Hán Kiến Vũ năm
thứ 18). Mùa xuân tháng giêng, Mã Viện theo ven biển mà tiến, san núi làm đường
hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc (3) đánh nhau với vua. Vua thấy thế giặc mạnh lắm,
tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ không chống nổi, lui quân về giữ Cấm Khê (Cấm Khê,
sử chép là Kim Khê). Quần chúng cũng cho vua là đàn bà, sợ không đánh nổi địch,
bẻn tản chạy. Quốc thống lại mất.
Chú
1-Huyện Mê Linh: Thời thuộc
Hán bao gồm phần đất tỉnh Vĩnh Phú và một số huyện thuộc ngoại thành Hà Nội
ngày nay.
2-Huyện Chu Diên: Thời thuộc
Hán ở miền lưu vực sông Đáy (thuộc một phần đất Hà Tây và Hà Nam Ninh)
3-Ở đây, Toàn thư cho Lãng Bạc
là Hồ Tây (Hà Nội), nhưng như vậy là lầm. Nhiều nhà nghiên cứu đã đoán định
Lãng Bạc ở vùng Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc ngày nay.
(Bản chữ Hán: Bản in Nội các
quan bản. Mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697). Nhà xuất bản Khoa học xã hội
- 1998)
(Bản
dịch và chú thích của Ngô Đức Thọ, Hà Văn Tấn hiệu đính. Nhà xuất bản Văn hoá –
Thông tin, Hà Nội 2003, quyển 1 trang 214-215)
