少年遊
氣温東陸
青青相續
花草浴春暉
呢喃鶯燕
山雲眷戀
終日伴相隨
舉酒請君歡聲笑
長路白駒飛
歲月青絲浮霜鬢
香難盡
莫憂悲
THIẾU NIÊN DU
Khí ôn
đông lục
Thanh
thanh tương tục
Hoa thảo
dục xuân huy
Ni nam
oanh yến
Sơn
vân quyến luyến
Chung nhật bạn tương tuỳ
Cử tửu
thỉnh quân hoan thanh tiếu
Trường
lộ bạch câu phi
Tuế
nguyệt thanh ti phù sương mấn
Hương
nan tận
Mạc ưu bi
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 03/01/2026
Đông
lục 東陸:
chỉ mùa xuân. Trong Tuỳ thư - Thiên văn chí 隋書 - 天文志 có chép:
Nhật
tùng hoàng đạo đông hành, nhất nhật nhất dạ hành nhất độ, tam bách lục thập ngũ
nhật hữu cơ nhi chu thiên, (Nhật) hành đông lục vị chi xuân, hành nam lục vị
chi hạ, hành tây lục vị chi thu, hành bắc lục vị chi đông.
日從黃道東行,
一日一夜行一度, 三百六十五日有奇而周天. (日)
行東陸謂之春, 行南陸謂之夏, 行西陸謂之秋,
行北陸謂之冬.
(Mặt trời theo đường hoàng đạo đi về
phía đông, một ngày một đêm đi được một vòng, ba trăm sáu mươi lăm ngày có lẽ
thì giáp vòng trái đất. (Mặt trời) đi đến đông lục gọi là xuân, đi đến nam lục
gọi là hạ, đi đến tây lục gọi là thu, đi đến bắc lục gọi là đông.)
Dục
浴: tắm.
Xuân
huy 春暉: ánh nắng.
Ni
nam 呢喃: (tiếng
chim) ríu rít.
Bạch
câu 白駒: điển xuất từ thành ngữ “Bạch câu quá khích” 白驹过隙 (bóng câu qua cửa sổ).
“Bạch câu” 白驹tức tuấn mã sắc trắng;
“khích” 隙 là khe hở. Con tuấn mã
chạy vụt qua khe hở, hình dung thời gian trôi qua thật nhanh, điển xuất
từ Trang Tử - Trí bắc du 庄子 - 知北游. Trong Trí bắc du có câu:
Nhân
sinh thiên địa chi gian, nhược bạch câu chi quá khích, hốt nhiên nhi dĩ.
人生天地之间, 若白驹之过隙, 忽然而已.
(Đời
người trong khoảng trời đất, giống như bóng câu qua cửa sổ, thoáng một cái đã
qua mất.)
Trong Sử
kí – Lưu Hầu thế gia 史记 - 留侯世家 của Tư Mã Thiên 司马迁thời Tây Hán có câu:
Nhân
sinh nhất thế gian, như bạch câu quá khích, hà chí tự khổ như thử hồ!
人生一世间, 如白驹过隙, 何至自苦如此乎!
(Đời
người trên thế gian như bóng câu qua cửa sổ, hà tất phải tự làm khổ mình như
thế!)
Và
trong Hán thư 汉书 quyển 33 – Nguỵ Báo
truyện 魏豹传của Ban Cố 班固thời Đông Hán:
Nhân
sinh nhất thế gian, như bạch câu quá khích.
人生一世间, 如白驹过隙.
(Đời
người trên thế gian, như bóng câu qua cửa sổ).
https://baike.baidu.com/item/%E7%99%BD%E9%A9%B9%E8%BF%87%E9%9A%99/2217?fromModule=lemma_inlink
Thanh
ti 青絲: tơ
xanh (đen), điển xuất từ bài “Tương
tiến tửu” 將進酒 của Lí
Bạch 李白:
Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát
Triêu như thanh ti mộ thành tuyết
君不見高堂明鏡悲白髮
朝如青絲暮成雪
(Anh không thấy cha mẹ soi gương buồn nhìn tóc bạc
Buổi sớm như tơ đen chiều đã như tuyết trắng)
(青 (thanh) ở đây là “hắc sắc” 黑色.)
Sương mấn 霜鬢: tóc mai điểm sương.
Mạc 莫: chớ, đừng.
Tạm dịch
Mùa
xuân khí trời ấm áp
Màu
xanh nối liền không dứt
Hoa cỏ
tắm trong ánh nắng xuân
Oanh yến
kêu ríu rít
Núi
mây quyến luyến
Cả ngày làm bạn không rời
Nâng
li mời anh, hãy cất tiếng vui cười
Đường
dài ngựa câu chạy như bay
Năm
tháng qua đi, tóc xanh giờ lốm đốm
Mùi
hương không dứt
Chớ ưu
bi
