Sáng tác: Ức mộng nguyệt - Bạch tàng Tây lục (HCH)

 

憶夢月

白藏西陸

氣爽花香熟

御者望舒車轉軸

地上銀光反復

廣寒仙友來香

封姨慢引輕霜

蛐蛐商聲共響

茫茫刻漏更長 

ỨC MỘNG NGUYỆT

Bạch tàng Tây lục

Khí sảng hoa hương thục

Ngự giả Vọng Thư xa chuyển trục

Địa thượng ngân quang phản phục

Quảng Hàn tiên hữu lai hương

Phong di mạn dẫn khinh sương

Khúc khúc thương thanh cộng hưởng

Mang mang khắc lậu canh trường 

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 25/8/2025

Ức mộng nguyệt 憶夢月: từ bài danh, còn có tên là “Thanh bình nhạc” 清平乐, “Thanh bình nhạc lệnh” 清平乐令, “Tuý đông phong” 醉东風, gồm song điệu, 46 chữ.

Bạch tàng 白藏: chỉ mùa thu. Lấy ngũ sắc “thanh , xích , hoàng , bạch , hắc ” phối cùng bốn mùa. Thu thuộc bạch; thu lại là mùa thu hoạch, tàng trữ, cho nên có tên là “bạch tàng” 白藏. Trong Nhĩ nhã – Thích thiên 爾雅 - 釋天có câu:

Thu vi bạch tàng

秋為白藏

(Mùa thu gọi là bạch tàng)

Tây lục 西陸: cũng chỉ mùa thu. Trong Tuỳ thư  - Thiên văn chí 隋書 - 天文志 có chép:

          Nhật tùng hoàng đạo đông hành, nhất nhật nhất dạ hành nhất độ, tam bách lục thập ngũ nhật hữu cơ nhi chu thiên, (Nhật) hành đông lục vị chi xuân, hành nam lục vị chi hạ, hành tây lục vị chi thu, hành bắc lục vị chi đông.

          日從黃道東行, 一日一夜行一度, 三百六十五日有奇而周天. () 行東陸謂之春, 行南陸謂之夏, 行西陸謂之秋, 行北陸謂之冬.

          (Mặt trời theo đường hoàng đạo đi về phía đông, một ngày một đêm đi được một vòng, ba trăm sáu mươi lăm ngày có lẻ thì giáp vòng trái đất. (Mặt trời) đi đến đông lục gọi là xuân, đi đến nam lục gọi là hạ, đi đến tây lục gọi là thu, đi đến bắc lục gọi là đông.)

Ngự giả 御者: người đánh xe.

Vọng Thư 望舒: tên vị thần đánh xe cho thần mặt trăng trong truyền thuyết, biệt xưng là “Minh Thư” 明舒, “Tố Thư” 素舒, “Viên Thư” 圓舒. Tên gọi “Vọng Thư” 望舒được thấy sớm nhất trong “Sở từ - Li tao” 楚辭 - 離騷:

Tiền Vọng Thư sử tiên khu hề

前望舒使先驅兮

(Sai thần đánh xe Vọng Thư đi trước)

          Vương Dật 王逸thời Đông Hán chú rằng:

Vọng Thư, Nguyệt ngự dã.

望舒, 月御也

(Vọng Thư là thần đánh xe cho thần mặt trăng)

          Về sau, mượn “Vọng Thư” 望舒để chỉ mặt trăng.

Quảng Hàn tiên hữu 廣寒仙友: “Quảng Hàn tiên” 廣寒仙và “Tiên hữu” 仙友 đều là biệt xưng của hoa quế.

          Quảng Hàn tiên 廣寒仙: tương truyền trên cung trăng có cây quế, cho nên gọi hoa quế là “Quảng Hàn tiên” (vị tiên trên cung Quảng Hàn)

          Tiên hữu 仙友: hoa quế thanh nhã cao khiết, hương khí bay xa, nên được xưng là “tiên hữu” (bạn tiên).

Phong di 封姨: một tên gọi khác của gió, cũng viết là 封夷, là vị thần gió trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc, còn gọi là “Phong gia di” 封家姨, “Thập bát di” 十八姨, “Phong thập bát di” 封十八姨, ta quen gọi là “Dì gió”

          Vào niên hiệu Thiên Bảo 天宝đời Đường, Thôi Huyền Vi 崔玄微 vào một đêm xuân gặp được mấy người đẹp: người áo xanh là Dương thị 杨氏, người áo trắng là Lí thị 李氏, người áo đỏ là Đào thị 陶氏, người áo lụa đào là tiểu nữ Thạch Thố Thố 石醋醋cùng với Phong gia thập bát di 封家十八姨 (dì mười tám nhà họ Phong). Họ Thôi bảo rót rượu để vui uống, Thập bát di rót làm vấy bẩn áo của Thố Thố, buổi tiệc không vui giải tán. Đêm hôm sau, các cô gái lại đến, Thố Thố nói rằng các cô gái đều ở trong vườn, phần nhiều bị gió dữ quấy nhiễu, cầu xin họ Thôi mỗi năm vào lúc Nguyên đán 元旦treo lá cờ màu hồng ở phía đông trong vườn, thì có thể tránh được nạn. Lúc bấy giờ Nguyên đán đã qua, nhân đó xin một buổi sáng sớm nào đó treo cờ. Ngày hôm đó, gió từ hướng đông thổi đến, làm gãy cây, cát bụi bay mù, vậy mà cây hoa trong vườn đều bất động. Họ Thôi bấy giờ mới ngộ ra, các cô gái đó đều là hoa tinh, còn Thập bát di là thần gió.

          Về sau trong thơ văn thường “phong di” 封姨 để chỉ gió.

http://xh.5156edu.com/page/z2550m1686j20726.html

          “Phong di” ta thường gọi là “dì gió”, “thập bát di” là “dì mười tám”.

Đêm có ả trăng làm bạn cũ

Ngày thì dì gió quét bên giường

(“Hồng Đức quốc âm thi tập”)

Nước non một gánh nhẹ thay

Lứa vui dì gió bạn vầy ải trăng

(“Sơ kính tân trang”)

Khúc khúc 蛐蛐: con dế, còn gọi là “tất suất” 蟋蟀.

Thương thanh 商聲: còn gọi là “thu thanh” 秋聲tức “tiếng thu”. Thời cổ lấy ngũ âm “cung , thương , giốc , chuỷ , vũ ” phối cùng bốn mùa. Thu thuộc thương, âm thương u buồn, tương ứng với khí tiêu sát của mùa thu, cho nên mùa thu có tên là “thương thu” 商秋, tiếng mùa thu là “thương thanh” 商聲.

Mang mang 茫茫: hình dung không gian mênh mông, bao la.

Khắc lậu 刻漏: trong “Hán Việt tự điển” của Thiều Chửu ghi rằng:

          Ngày xưa dùng cái gáo dùi thủng một lỗ nhỏ, đổ nước vào lâu lâu lại dỏ một giọt, nước đầy thì cái thẻ khắc thì giờ nổi lên xem phân số nhiều ít thì biết được thì giờ sớm hay muộn.

Ở đây mượn “khắc lậu” để chỉ thời gian.

Tạm dịch

Mùa thu đến

Khí thu trong, hương hoa thu đã ngát

Vầng trăng chuyển động trên cao

Trên mặt đất ánh sáng bạc khuất rồi lại hiện

Hoa quế bạn tiên cũng đến

Dì gió dẫn lại sương đêm

Tiếng dế tiếng thu cùng trổi dậy

Mênh mang không gian, canh đã vào khuya.

Previous Post Next Post