Dịch thuật: Đem lòng khuyển mã đền nghì bể sông (276) (Nhị độ mai)

 

ĐEM LÒNG KHUYỂN MÃ ĐỀN NGHÌ BỂ SÔNG (276)

          Khuyển mã 犬馬 / 犬马: Tức chó và ngựa. Đối với vị quân chủ, bề tôi tự ví mình “khuyển mã” để biểu thị lòng trung thành, cam tâm phục dịch.

          Trong Tam quốc chí – Nguỵ chí – Hoa Hâm truyện 三国志 - 魏志 - 华歆传có câu:

          Thần bị vị Tể tướng, lão bệnh nhật đốc, khuyển mã chi mệnh tương tận.

          臣备位宰相, 老病日笃, 犬马之命将尽.

          (Thần thẹn ở ngôi Tể tướng, bệnh cũ ngày càng nặng, thân khuyển mã sắp tàn)

          Và trong Trần tình biểu 陈情表của Lí Mật 李密đời Tấn có câu:

          Thần bất thăng khuyển mã bố cụ chi tình, cẩn bái biểu dĩ văn.

          臣不胜犬马怖惧之情, 谨拜表以闻.

          (Tình khuyển mã vô cùng sợ sệt của thần nói sao cho xiết, kính dâng biểu xin bệ hạ soi xét).

https://baike.baidu.com/item/%E7%8A%AC%E9%A9%AC/4911728

          BỂ SÔNG: Ở đây tức “hải hàm” 海涵. “Hải hàm” là kính từ, dùng để ví lòng bao dung độ lượng vô cùng to lớn, như sông như bể của một ai đó.

          Tô Thức 苏轼 đời Tống trong Hồ Châu tạ thướng biểu 湖州谢上表có viết:

          Thử cái phục ngộ hoàng đế bệ hạ, thiên phú quần sinh, hải hàm vạn tộc.

          此盖伏遇皇帝陛下, 天覆群生, 海涵万族.

          (Đó đều là nhân vì gặp được hoàng đế bệ hạ, dùng người không cầu có đầy đủ tài năng, biểu dương chỗ tốt mà cũng bao dung lượng thứ chố không hay.)

https://baike.baidu.com/item/%E6%B5%B7%E6%B6%B5/2334982

          Thành ngữ Trung Quốc có câu: “Hải hàm xuân dục” 海涵春育, ví với lòng bao dung độ lượng, như biển rộng lớn, như gió xuân nuôi dưỡng vạn vật. Thường dùng để xưng tụng quân vương thực hành nhân chính.

Tâu rằng: Hổ phận ngu si

Đem lòng khuyển mã đền nghì bể sông

(Nhị độ mai 275 - 276)

                                                                   Huỳnh Chương Hưng

                                                                   Quy Nhơn 02/3/2023

Previous Post Next Post