Dịch thuật: Chữ "hỉ" 喜

 

CHỮ “HỈ”   

          Dưới đây là chữ (hỉ) trong giáp cốt văn.

          Từ giáp cốt văn, kim văn, tiểu triện đến khải thư, kết cấu tự hình chỉnh thể của chữ về cơ bản là tương đồng. Phía trên là một nửa bên trái của chữ “cổ” (cái trống), biểu thị âm nhạc; phía dưới là chữ “khẩu” , biểu thị người đang nói cười vui vẻ. Cả hai hợp lại, chính là tiếng trống rộn rã vui vẻ, nghe tiếng trống vang lên, mỗi người đều hân hoan cười lớn. Cũng chính là nói, sự vui mừng, hân hoan, vui thích của người xưa, một trong những nguyên nhân trong đó, do từ tiếng trống mà dẫn đến.

          Trong dân gian Hán tộc Trung Quốc, khi kết hôn đều dán chữ (song hỉ). Chữ này rất thú vị, là hai chữ đứng ngang hàng nhau, nhìn rất sinh động, chỉnh thể điều hoà, vô cùng mĩ quan, vả lại ngụ ý sâu xa, có ý nghĩa tốt đẹp chúc phúc hôn nhân mĩ mãn, cô dâu chú rể sống cùng nhau đến bạc đầu. Cũng chính là nói, một cuộc hôn nhân tốt đẹp phải dựa vào sự dụng tâm của cả hai, cầu ân ái hạnh phúc.

          Theo truyền thuyết, chữ này ban đầu có nguồn gốc từ văn học gia, cải cách gia Vương An Thạch 王安石 đời Tống.

Quá trình diễn biến của chữ (hỉ) 

Kim văn     Tiểu triện    Lệ thư    Khải thư

                                                               Huỳnh Chương Hưng

                                                              Quy Nhơn 22/01/2023

                                                               Mùng 1 tết Quý Mão

Nguồn

HÁN TỰ TIỂU THỜI HẬU

NHÂN CHI SƠ

汉字小时候

人之初

Biên soạn: Dương Quân 杨军

Tây An: Thiểm Tây Nhân dân Giáo dục xuất bản xã, 2018