Dịch thuật: Cổ đại châu quận nhiều - Bàn về chữ "châu" 州

 

CỔ ĐẠI CHÂU QUẬN NHIỀU

Bàn về chữ “châu”  

          (châu) là chữ tượng hình. Chữ (xuyên) ở trong biểu thị sông, “ba chấm” biểu thị vùng đất cao nhô lên khỏi mặt nước.

Trong Thuyết văn 说文 có nói:

Thuỷ trung khả cư giả viết châu. Thi viết: ‘Tại hà chi châu’.

水中可居者曰州. 诗曰: ‘在河之州

(Trong sông nơi mà có thể cư trú được gọi là châu. Ở Kinh Thi có câu: ‘Tại hà chi châu’)

Trong Nhĩ nhã 尔雅 có ghi:

Tiểu châu viết chử ….. nhân sở tạo giả viết duật.

小州曰渚 ….. 人所造者曰潏

(Châu nhỏ gọi là ‘chử’ … do con người tạo ra gọi là ‘duật’)

          (châu) và (châu) là cổ kim tự. từ vùng đất trong sông có thể cư trú,  được dùng làm khu vực hành chính cùng với (châu) trong thần châu 神州, trung châu 中州, sau này dùng chữ  để biểu thị vùng đất trong sông.

          dùng làm khu vực hành chính, thời cổ có 9 châu, nó là sự phân chia địa lí học thời Tam Đại. Trong Thượng thư – Vũ cống 尚书 - 禹贡 có chép:

, Duyện , Thanh , Từ , Dương , Kinh , Dự , Lương , Ung là 9 châu (1).

Chín châu chép trong Chu lễ 周礼có:

Dương Châu 扬州, Kinh Châu 荆州, Dự Châu 豫州, Thanh Châu 青州, Duyện Châu 兖州, Ung Châu 雍州, U Châu 幽州, Kí Châu 冀州, Tịnh Châu 并州 (2).

Cửu châu trong Nhĩ nhã 尔雅 so với trong Thượng thư 尚书 nhiều hơn U Châu 幽州, Doanh Châu 营州, nhưng ít hơn Thanh Châu 青州, Lương Châu 梁州. Trong Lã Thị Xuân Thu 吕氏春秋đem sự phân chia cửu châu thống nhất với chư hầu quốc, khái niệm địa lí tương đối rõ hơn, khiến người ta dễ dàng nắm bắt. Đó chính là giữa sông Hà sông Hán là Dự Châu, nước Chu ; vùng lưỡng Hà là Kí Châu 冀州, nước Tấn ; giữa sông Hà sông Tế là Duyện Châu 兖州, nước Vệ ; phía đông là Thanh Châu 青州, nước Tề ; phía trên sông Tứ là Từ Châu 徐徐州, nước Lỗ ; phía đông nam là Dương Châu 扬州, nước Việt ; phía nam là Kinh Châu 荆州, nước Sở ; phía Tây là Ung Châu 雍州, nước Tần ; phía bắc là U Châu 幽州, nước Yên (3).

Danh xưng cửu châu, có nhiều giải thuyết của các nhà, như Kí Châu 冀州 trong Thích danh 释名 nói rằng:

Thủ địa dĩ vi danh dã, kì địa hữu hiểm hữu dịch, đế vương sở đô, loạn tắc kí trị, nhược tắc kí cường, hoang tắc kí phong dã.

取地为名也, 其地有险有易, 帝王之所都, 乱则冀治, 弱则冀强, 荒则冀丰也.

(Lấy đất làm tên gọi, vùng đất này hiểm trở mà cũng thay đổi, nơi đế vương kiến đô, lúc loạn thì mong được trị, lúc yếu thì mong được mạnh, lúc đói kém thì mong được mùa).

- Kinh châu, thủ danh vu Kinh sơn dã.

荆州, 取名于荆山也 

(Kinh châu, lấy tên từ Kinh sơn).

- Dự Châu, ….. kinh sư đông đô sở tại, thường an dự dã.

豫州, ….. 京师东都所在, 常安豫也

(Dự châu, ….. sở tại của đông đô kinh sư, thường bình an vui vẻ)

- Lương Châu sở tại hàn lương dã.

凉州所在寒凉也

(Lương Châu ở vào nơi lạnh mát)

- U Châu tại bắc, u muội chi địa dã.

幽州在北, 幽昧之地也

(U Châu ở phương bắc, vùng đất tối tăm)

- Duyện Châu, thủ Duyện thuỷ dĩ vi danh. (4)

兖州, 取兖水为名

(Duyện Châu, lấy sông Duyện làm tên)

Tịnh Châu 并州, theo Thái Khang địa kí 太康地记:

- Tịnh Châu bất dĩ Vệ thuỷ vi hiệu, bất dĩ Hằng sơn vi xưng, nhi ngôn tịnh, dĩ kì tại lưỡng cốc chi gian dã. (5)

并州不以卫水为号不以恒山为称而言并以其在两谷之间也.

(Tịnh Châu không lấy sông vệ làm hiệu, không lấy Hằng sơn để gọi, nên nói là “tịnh”, lấy ý khu vực giữa hai thung lũng)

Từ tổng thể của cửu châu mà nói, có thể thay thế cho đại địa Thần châu 神州. Nhưng ghi chép ở thiên Vũ cống 禹贡sợ là không có căn cứ, tức khiến cho sự phân chia địa lí thời Chiến Quốc cũng không phải là khu vực hành chính thực tế. Nhưng trong thơ văn, người ta dùng rất nhiều. Lục Du 陆游 trong bài thơ Thị nhi 示儿 nói rằng:

Tử khứ nguyên tri vạn sự không

Đản bi bất kiến cửu châu đồng

死去原知万事空

但悲不见九州同

(Vẫn biết chết đi là muôn việc không còn vướng bận

Nhưng chi một điều đau buồn đó là chưa thấy cửu châu thống nhất)

          Và như trong thơ của Cung Tự Trân 龚自珍 có câu:

Cửu châu sinh khí thị phong lôi

Vạn mã tề âm cứu khả ai

九州生气恃风雷

万马齐喑究可哀

(Sinh khí của cửu châu dựa vào sự biến đổi mạnh mẽ như gió như sấm

Nhưng khắp nơi muôn ngựa im lìm, rốt cuộc khiến lòng đau xót)

Cửu châu ở đây đều mang ý nghĩa là Thần châu. …..

                                                                               (còn tiếp)

Chú của nguyên tác

1- Vương Thế Thuấn 王世舜: Thượng thư dịch chú - Vũ cống 尚书译注 - 禹贡. trang 45 – 61, Tứ Xuyên Nhân dân xuất bản xã.

2- Lâm Doãn 林尹: Chu lễ kim chú kim dịch - Hạ quan Tư mã hạ - Chức Phương thị 周礼今注今译 - 夏官司马 - 职方氏, trang 344, Thư mục Văn hiến xuất bản xã.

3- Lã Thị Xuân Thu - Hữu thuỷ lãm 吕氏春秋 - 有始览, trang 92, Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã.

4- Thanh . Vương Tiên Khiêm 王先谦: Thích danh sớ chứng bổ 释名疏证补. quyển nhị 61- 64, Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã.

5- Nghệ văn loại tụ 艺文类聚 quyển 6 Châu bộ 州部 trang 116, Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã.

                                                          Huỳnh Chương Hưng

                                                          Quy Nhơn 19/6/2022

Nguyên tác Trung văn

CỔ ĐẠI CHÂU QUẬN ĐA

ĐÀM “CHÂU

古代州郡多

 

Trong quyển

HÁN TỰ THẬP THÚ

汉字拾趣

Tác giả: KỶ ĐỨC DỤ (纪德裕)

Phúc Đán Đại học xuất bản xã, 1998