Dịch thuật: Lang nội xuân phong nguyệt tương yết (380) (Đặng Trần Côn: Chinh phụ ngâm)

 

LANG NỘI XUÂN PHONG NGUYỆT TƯƠNG YẾT (380)

廊內春風日將歇

Gió xuân nơi hành lang, cũng sắp ngừng thổi

 

Câu này gốc cũng xuất từ bài Đảo y thiên 捣衣篇của Lí Bạch 李白. Bài thơ viết về tình cảnh của người thiếu phụ chốn phòng khuê nhớ đến người chồng viễn chinh.

          Khuê lí giai nhân niên thập dư. Tần nga đối ảnh hận li cư. Hốt phùng giang thượng xuân quy yến. Hàm đắc vân trung xích tố thư. Ngọc thủ khai giam trường thán tức. Cuồng phu do thú Giao Hà bắc. Vạn lí Giao Hà thuỷ bắc lưu. Nguyện vị song yến phiếm trung châu. Quân biên vân ủng thanh ti kị. Thiếp xử đài sinh hồng phấn lâu. Lâu thượng xuân phong nhật tương hiết. Thuỳ năng lãm kính khan sầu phát. Hiểu xuy viên quản tuỳ hoa lạc. Dạ đảo nhung y hướng minh nguyệt. Minh nguyệt cao cao khắc lậu trường. Chân châu liêm bạc yểm lan đường. Hoành thuỳ bảo ác đồng tâm kết. Bán phất quỳnh diên tô hợp hương. Quỳnh diên ngọc ác liên chi cẩm. Đăng chúc huỳnh huỳnh chiếu cô tẩm. Hữu tiện bằng tương kim tiễn đao. Vị quân lưu hạ tương tư chẩm. Trích tận đình lan bất kiến quân. Hồng cân thức lệ sinh nhân uân. Minh niên nhược cánh chinh biên tái. Nguyện tác Dương đài nhất đoạn vân.

          闺里佳人年十馀. 嚬蛾对影恨离居. 忽逢江上春归燕. 衔得云中尺素书. 玉手开缄长叹息. 狂夫犹戍交河北. 万里交河水北流. 愿为双燕泛中洲. 君边云拥青丝骑. 妾处苔生红粉楼. 楼上春风日将歇. 谁能揽镜看愁发. 晓吹员管随花落. 夜捣戎衣向明月. 明月高高刻漏长. 真珠簾箔掩兰堂. 横垂宝幄同心结. 半拂琼筵苏合香. 琼筵玉幄连枝锦. 灯烛荧荧照孤枕. 有便凭将金剪刀. 为君留下相思枕. 摘尽庭兰不见君. 红巾拭泪生氤氲. 明年若更征边塞. 愿作阳台一段云.

          (Giai nhân chốn phòng khuê chưa đến hai mươi tuổi. Thường soi kiếng chau mày, hận phải cách xa chồng. Chợt nhìn thấy chim yến bên sông bay đến. Mỏ chim ngậm phong thư. Tay ngọc mở xem, không ngăn được buông tiếng than dài. Hoá ra chồng hãy còn trấn thủ phía bắc Giao Hà nơi Tây vực. Giao Hà muôn dặm tuôn chảy về phương bắc. Nguyện được cùng chàng hoá làm đôi chim yến dạo chơi chốn trung châu. Bên cạnh chàng chiến mã nhiều như  mây trời vây quanh. Nơi lầu thiếp ở, rêu xanh đã mọc đầy. Gió xuân trên lầu cũng sắp ngừng thổi. Nào ai muốn soi kíếng nhìn tóc từng sợi sầu thương. Sáng sớm trong cơn hoa rụng, thiếp thổi sáo xua đi nỗi tịch liêu. Đêm đến dưới ánh trăng thiếp đập giặt nhung y. Trăng sáng cao cao, thời gian từng tí từng tí trôi qua. Nơi phòng lan buông rèm trân châu. Trên màn rủ dải đồng tâm kết. Nơi bàn tiệc, mùi tô hợp hương thoang thoảng. Bàn tiệc và màn ngọc đều trang sức gấm có đồ án “cây liền cành”. Thế mà đèn đuốc lấp lánh rọi chiếu thiếp cô đơn. Tiện thể dùng kéo vàng cắt may chiếc gối. Vì chàng mà thiếp giữ gối tương tư. Hoa lan trong sân thiếp đã hái hết mà chưa thấy chảng trở về. Đôi mắt thiếp mờ đi, khăn hồng đã thấm đẫm nước mắt. Sang năm nếu chàng vẫn còn nơi biên tái. Thiếp nguyện hoá làm đám mây trên đỉnh Dương đài để sớm chiều làm bạn bên chàng.)

          “Xuân phong” 春风 mượn chỉ thời gian ngày xuân, thực chỉ thời niên hoa thanh xuân của chủ nhân công ngày lại ngày qua đi, sắp hết.

https://baike.baidu.com/item/%E6%8D%A3%E8%A1%A3%E7%AF%87/6816636

Về chữ , trong Khang Hi tự điển 康熙字典 có ghi: Đường vận 唐韻Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận   đều phiên thiết là HỨA KIỆT,许竭. Âm (hiết) có nghĩa là ngừng, nghỉ, hết.

Hán Việt từ điển của Thiều Chửu phiên âm là “hiết”.

Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng của Nguyễn Tôn Nhan phiên là “yết”.

Tôi theo Khang Hi tự điểnHán Việt tự điển của Thiều Chửu phiên âm là “hiết”.

Câu 380 này, bản Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển phẩn chữ Hán là chữ (nhật) nhưng phiên âm nhầm là “nguyệt”.

Bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm diễn ca” tương truyền của Đoàn Thị Điểm là:

Gió xuân ngày một vắng tin (323)

                                                                            Huỳnh Chương Hưng

                                                                            Quy Nhơn 01/02/2022

                                                                             Mùng 1 tết Nhâm Dần