Dịch thuật: Tiêm vân thời phảng phất (370) (Đặng Trần Côn: Chinh phụ ngâm)

 

TIÊM VÂN THỜI PHẢNG PHẤT (370)

纖雲時彷彿

Mây nhẹ dường phảng phất


          Tiêm vân 纖雲/纤云: Áng mây nhẹ. Tần Quán 秦观 thời Tống ở bài từ Tiêm vân lộng xảo 纤云弄巧 theo điệu Thước kiều tiên 鹊桥仙viết rằng:

          Tiêm vân lộng xảo. Phi tinh truyền hận. Ngân hán điều điều ám độ. Kim phong ngọc lộ nhất tương phùng. Tiện thắng khước nhân gian vô số. Nhu tình tự thuỷ. Giai kì như mộng. Nhẫn cố thước kiều quy lộ. Lưỡng tình nhược thị cửu trường thời. Hựu khởi tại triêu triêu mộ mộ.

          纤云弄巧. 飞星传恨. 银汉迢迢暗度. 金风玉露一相逢. 便胜却人间无数. 柔情似水. 佳期如梦. 忍顾鹊桥归路. 两情若是久长时. 又岂在朝朝暮暮.

          (Áng mây trôi nhẹ nhàng trên không trung biến hoá đa đoan. Sao Khiên Ngưu Chức Nữ truyền nỗi tương tư sầu oán. Đêm nay, nơi dải ngân hà xa xôi họ lặng lẽ vượt qua.  Gặp nhau trong gió thu móc trắng. Hơn những đôi tình nhân chốn nhân gian xa cách nhau không gặp được. Nỗi thương nhớ triền miên như nước ngân hà ngàn năm tuôn chảy. Ước hẹn trùng phùng như mộng huyễn xa vời. Lúc phân li lưu luyến không nỡ quay nhìn đường về nơi cầu ô thước. Chỉ cần tình cảm đôi ta trường cửu đến chết vẫn không thôi. Thì hà tất phải bên nhau chiều chiều sớm sớm.)

https://baike.baidu.com/item/%E9%B9%8A%E6%A1%A5%E4%BB%99%C2%B7%E7%BA%A4%E4%BA%91%E5%BC%84%E5%B7%A7/6679491

Câu 370 “Tiêm vân thời phảng phất” cũng xuất từ bài Tứ Triệu Sĩ Trung nhị thủ 赐赵士忠二首 (bài 2) của Tống Hiếu Tông 宋孝宗thời Tống. (Có tư liệu cho là của Phó Huyền 傅玄thời Tấn):

Chí sĩ tích nhật đoản. Sầu nhân tri dạ trường. Nhiếp y bộ tiền đình. Ngưỡng quan nam nhạn tường. Thuần ảnh tuỳ hình vận. Lưu hưởng quy không phòng. Thanh phong hà phiêu diêu. Vi nguyệt xuất tây phương. Phồn tinh y thanh thiên. Liệt tú tự thành hàng. Thiền minh cao thụ gian. Dã điểu hào đông sương. Tiêm vân thời phảng phất. Ác lộ triêm ngã thường. Lương thời vô đình ảnh. Bắc đẩu hốt đê ngang. Thường khủng hàn tiết chí. Ngưng khí kết vi sương. Lạc diệp tuỳ phong tồi. Nhất tuyệt như lưu quang.

志士惜日短. 愁人知夜长. 摄衣步前庭. 仰观南雁翔. 淳景随形运. 流响归空房. 清风何飘颻, 微月出西方. 繁星依青天. 列宿自成行. 蝉鸣高树间. 野鸟号东厢. 纤云时髣髴. 渥露沾我裳. 良时无停景. 北斗忽低昂. 常恐寒节至. 凝气结为霜. 落叶随风摧. 一绝如流光.

(Kẻ sĩ có chí hướng tiếc ngày luôn ngắn. Người u sầu cho đêm lại dài. Vén vạt áo dạo bước trong sân. Ngước nhìn bầy chim nhạn bay liệng về phương nam. Cảnh đêm đẹp theo ánh trăng lưu chuyển. Có thanh âm vang đến phòng trống vắng. Gió mát nhẹ nhàng lướt qua. Trăng non từ phương tây mọc ra. Sao dày tựa vào bầu trời xanh. Chúng bày ra thành hàng. Ve kêu trên ngọn cây cao. Chim rừng kêu nơi gian nhà phía đông. Mây nhẹ nhàng dường phảng phất. Sương đêm nặng thấm đẫm áo của ta. Thời khắc đẹp không dừng lại. Chòm Bắc đẩu chợt bày ra. Thường sợ khí lạnh kéo đến. Ngưng kết lại thành sương. Lá rụng hư hại theo làn gió. Cảnh đẹp như một bài thơ theo ánh trăng lưu chuyển trên sóng nước)

https://www.gushiju.net/ju/1050788

Câu 370 bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm diễn ca” tương truyền của Đoàn Thị Điểm là:

Thức mây đòi lúc lạt nồng (315)

Bản Chinh phụ ngâm khúc của Vân Bình Tôn Thất Lương, nxb Tân Việt, in năm 1953 là:

Thức mây đòi lúc NHẠT nồng

                                                                            Huỳnh Chương Hưng

                                                                            Quy Nhơn 21/01/2022