Dịch thuật: Thiếp xử đài sinh hưởng điệp lang (379) (Đặng Trần Côn: Chinh phụ ngâm)

 

THIẾP XỬ ĐÀI SINH HƯỞNG ĐIỆP LANG (379)

妾處苔生響屧廊

Nơi “hưởng điệp lang” thiếp ở, rêu xanh đã mọc đầy

 

          Chữ này đọc đúng là “tiệp”.

Câu này cũng như câu 364 và câu 378 ở trên, gốc xuất từ bài Đảo y thiên 捣衣篇của Lí Bạch 李白. Bài thơ viết về tình cảnh của người thiếu phụ chốn phòng khuê nhớ đến người chồng viễn chinh.

          Khuê lí giai nhân niên thập dư. Tần nga đối ảnh hận li cư. Hốt phùng giang thượng xuân quy yến. Hàm đắc vân trung xích tố thư. Ngọc thủ khai giam trường thán tức. Cuồng phu do thú Giao Hà bắc. Vạn lí Giao Hà thuỷ bắc lưu. Nguyện vị song yến phiếm trung châu. Quân biên vân ủng thanh ti kị. Thiếp xử đài sinh hồng phấn lâu. Lâu thượng xuân phong nhật tương hiết. Thuỳ năng lãm kính khan sầu phát. Hiểu xuy viên quản tuỳ hoa lạc. Dạ đảo nhung y hướng minh nguyệt. Minh nguyệt cao cao khắc lậu trường. Chân châu liêm bạc yểm lan đường. Hoành thuỳ bảo ác đồng tâm kết. Bán phất quỳnh diên tô hợp hương. Quỳnh diên ngọc ác liên chi cẩm. Đăng chúc huỳnh huỳnh chiếu cô tẩm. Hữu tiện bằng tương kim tiễn đao. Vị quân lưu hạ tương tư chẩm. Trích tận đình lan bất kiến quân. Hồng cân thức lệ sinh nhân uân. Minh niên nhược cánh chinh biên tái. Nguyện tác Dương đài nhất đoạn vân.

          闺里佳人年十馀. 嚬蛾对影恨离居. 忽逢江上春归燕. 衔得云中尺素书. 玉手开缄长叹息. 狂夫犹戍交河北. 万里交河水北流. 愿为双燕泛中洲. 君边云拥青丝骑. 妾处苔生红粉楼. 楼上春风日将歇. 谁能揽镜看愁发. 晓吹员管随花落. 夜捣戎衣向明月. 明月高高刻漏长. 真珠簾箔掩兰堂. 横垂宝幄同心结. 半拂琼筵苏合香. 琼筵玉幄连枝锦. 灯烛荧荧照孤枕. 有便凭将金剪刀. 为君留下相思枕. 摘尽庭兰不见君. 红巾拭泪生氤氲. 明年若更征边塞. 愿作阳台一段云.

          (Giai nhân chốn phòng khuê chưa đến hai mươi tuổi. Thường soi kiếng chau mày, hận phải cách xa chồng. Chợt nhìn thấy chim yến bên sông bay đến. Mỏ chim ngậm phong thư. Tay ngọc mở xem, không ngăn được buông tiếng than dài. Hoá ra chồng hãy còn trấn thủ phía bắc Giao Hà nơi Tây vực. Giao Hà muôn dặm tuôn chảy về phương bắc. Nguyện được cùng chàng hoá làm đôi chim yến dạo chơi chốn trung châu. Bên cạnh chàng chiến mã nhiều như  mây trời vây quanh. Nơi lầu thiếp ở, rêu xanh đã mọc đầy. Gió xuân trên lầu cũng sắp ngừng thổi. Nào ai muốn soi kíếng nhìn tóc từng sợi sầu thương. Sáng sớm trong cơn hoa rụng, thiếp thổi sáo xua đi nỗi tịch liêu. Đêm đến dưới ánh trăng thiếp đập giặt nhung y. Trăng sáng cao cao, thời gian từng tí từng tí trôi qua. Nơi phòng lan buông rèm trân châu. Trên màn rủ dải đồng tâm kết. Nơi bàn tiệc, mùi tô hợp hương thoang thoảng. Bàn tiệc và màn ngọc đều trang sức gấm có đồ án “cây liền cành”. Thế mà đèn đuốc lấp lánh rọi chiếu thiếp cô đơn. Tiện thể dùng kéo vàng cắt may chiếc gối. Vì chàng mà thiếp giữ gối tương tư. Hoa lan trong sân thiếp đã hái hết mà chưa thấy chảng trở về. Đôi mắt thiếp mờ đi, khăn hồng đã thấm đẫm nước mắt. Sang năm nếu chàng vẫn còn nơi biên tái. Thiếp nguyện hoá làm đám mây trên đỉnh Dương đài để sớm chiều làm bạn bên chàng.)

https://baike.baidu.com/item/%E6%8D%A3%E8%A1%A3%E7%AF%87/6816636

          Về chữ , trong Khang Hi tự điển 康熙字典 có ghi: Đường vận 唐韻phiên thiết là TÔ HIỆP 蘇叶; Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận phiên thiết là TẤT HIỆP 悉協.

Hán Việt từ điển của Thiều Chửu và Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng của Nguyễn Tôn Nhan đều phiên là “tiệp”

Như vậy chữ đọc là “tiệp”.

Bản Chinh phụ ngâm Hán Nôm hợp tuyển và bản của Vân Bình Tôn Thất Lương đều phiên âm là “điệp”.

“Hưởng tiệp lang” 響屧廊: Hành lang vang tiếng guốc. Theo Khang Hi tự điển, mục chữ “tiệp” có chép:

“Cô Tô đồ kinh”: Ngô Vương cung trung hữu Hưởng tiệp lang, dĩ tiện tử bản tạ địa, hành tắc hữu thanh, cố danh.

姑蘇圖經”: 吳王宮中有響屟廊, 以楩梓板籍地, 行則有聲, 故名.

(Theo “Cô Tô đồ kinh”: Trong cung của Ngô Vương có Hưởng tiệp lang, dùng ván của hai loại cây lớn là cây hoàng tiện 黃楩và cây tử lót trên mặt đất, khi bước đi có tiếng vang nên có tên như thế.)

(Chữ (tiệp) cũng được viết là - ND)

Câu 379 bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm diễn ca” tương truyền của Đoàn Thị Điểm là:

Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in (322)

                                                                            Huỳnh Chương Hưng

                                                                            Quy Nhơn 31/01/2022