Dịch thuật: Nguồn gốc danh xưng tỉnh, thị, khu tự trị hiện hành của Trung Quốc (kì 5 - hết)

 

NGUỒN GỐC DANH XƯNG TỈNH, THỊ, KHU TỰ TRỊ

 HIỆN HÀNH CỦA TRUNG QUỐC

(kì 5 – hết)

          Thanh Hải 青海: Ở phía Trung Quốc, thượng du Hoàng Hà 黄河, Trường Giang 长江, nhân vì trong địa phận có hồ Thanh Hải nên có tên. Thời cổ là đất Tây Nhung 西戎, thời Hán là đất Khương , thời Tuỳ đặt quận Tây Hải 西海, Hải Nguyên 海源, thời Đường Tống là đất Thổ Phồn 吐蕃, đời Thanh phân ra thuộc phủ Tây Ninh 西宁tỉnh Cam Túc 甘肃, Thanh Hải Mông Cổ bộ 青海蒙古部và Ngọc Thụ thổ ti 玉树土司. Năm 1928 lập thành tỉnh Thanh Hải 青海. Hiện tỉnh hội là thành phố Tây Ninh 西宁. Gọi tắt là “Thanh” .

          Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ 宁夏: Ở vào khu vực tây bắc Trung Quốc, trung du Hoàng Hà 黄河. Thời Tần thuộc quận Bắc Địa 北地, thời Hán là Sóc Phương 朔方, thời Tống là nước Tây Hạ 西夏, thời Nguyên đặt Tây Hạ Hành trung thư sảnh 西夏行中书省, sau lấy ý “Hạ địa an ninh” 夏地安宁 (đất Hạ an ninh) đổi tên là “Ninh Hạ hành sảnh” 宁下行, thời Minh Thanh là phủ Ninh Hạ 宁下, năm 1928 lập tỉnh Ninh Hạ 宁夏. Tháng 10 năm 1958 thành lập khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ, thủ phủ là thành phố Ngân Xuyên 银川. Gọi tắt là “Ninh” .

          Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương 维吾尔新疆: Ở vùng biên cương Tây bắc Trung Quốc, tiếp giáp với 8 nước là Mông Cổ 蒙古, Nga La Tư 俄罗斯, Cáp Tát Khắc Tư Thản 哈萨克斯坦 (Kazakhstan - ND), Cát Nhĩ Cát Tư Tư Thản 吉尔吉斯斯坦 (Kyrgyzstan - ND), Tháp Cát Khắc Tư Thản 塔吉克斯坦 (Tajikistan - ND), A Phú Hãn 阿富汗 (Afghanistan - ND), Ba Cơ Tư Thản 巴基斯坦 (Pakistan - ND), Ấn Độ 印度. Thời Hán là Tây vực đô hộ phủ 西域都护府, thời Đường thiết lập Bắc Đình 北庭 và Tây An đô hộ phủ 西安都护府, thời Tống là đất Tây Liêu 西辽, thời Nguyên là nước Sát Hợp Thai Hãn 察合台汗 và Cáp Lạt Hoả châu 哈喇火州, thời Minh là Diệc Lực Bả Lí bộ 亦力把里部 cùng Thổ Lỗ Phan bộ 吐鲁番部. Thời Càn Long 乾隆 nhà Thanh thiết lập Y Lê Tướng quân 伊犁将军, thống hạt hai lộ Thiên Sơn nam 天山南 và Thiên Sơn bắc 天山北. Chính phủ triều Thanh lấy ý cương vực mới mở, nên đặt tên là “Tân Cương” 新疆. Năm Quang Tự 光绪 thứ 10 (năm 1884), lập tỉnh Tân Cương 新疆. Tháng 10 năm 1958, thành lập khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tấn Cương, thủ phủ là Ô Lỗ Mộc Tề 乌鲁木齐 (Urumqi - ND). Gọi tắt là “Tân” .

          Đài Loan 台湾: Ở Đông hải 东海phía đông nam Trung Quốc, đối diện với tỉnh Phúc Kiến 福建 cách eo biển Đài Loan 台湾, là đảo lớn nhất của Trung Quốc, diện tích là 3.6 vạn cây số vuông. Tên gọi có nguồn gốc từ dân tộc bản địa “Đài Oa loan” 台窝湾. Thời cổ xưng là “Di đảo” 夷岛, “Di châu” 夷州, “Lưu Cầu” 流求. Thời Tam Quốc, nước Ngô từng phái Tướng quân Vệ Ôn 卫温, Gia Cát Trực 诸葛直thống lĩnh giáp sĩ cả vạn người vượt biển đến Di châu 夷洲 (tức Di Châu 夷州). Thời Nam Tống các đảo Bành Hồ 澎湖đã thuộc lộ Phúc Kiến 福建; thời Nguyên Minh đặt Tuần kiểm ti 巡检司, sau bị thực dân Hà Lan, Tây Ban Nha xâm chiếm. Cuối thời Minh, Trịnh Thành Công 郑成功 thu phục Đài Loan; đầu đời Thanh đặt phủ Đài Loan 台湾, lệ thuộc tỉnh Phúc Kiến  福建. Năm Quang Tự 光绪thứ 11 (năm 1885) đổi thành tỉnh Đài Loan 台湾. Năm 1895 bị Nhật Bản chiếm lĩnh, năm 1945 về lại Trung Quốc. Hiện tỉnh hội là thành phố Đài Bắc 台北. Gọi tắt là “Đài” .  

          Đặc khu hành chính Hương cảng 香港: Ở bên bờ Nam hải 南海, phía đông Châu Giang khẩu 珠江口, gần thành phố Thâm Quyến 深圳tỉnh Quảng Đông 广东, phân làm 3 bộ phận: Hương Cảng đảo 香港岛, Cửu Long 九龙, Tân Giới 新界, tổng diện tích là 1,104 cây số vuông. Đời Thanh thuộc huyện Tân An 新安 (nay là thành phố Thâm Quyến 深圳) tỉnh Quảng Đông 广东, sau chiến tranh nha phiến năm 1942 bị nước Anh chiếm lĩnh hơn 150 năm. Căn cứ vào bản tuyên bố giữa hai nước Trung Anh năm 1984, vào ngày 01 tháng 7 năm 1997, Hương Cảng về lại Trung Quốc, theo nguyên tắc “nhất quốc lưỡng chế” 一国两制 (một nước hai chế độ), thực hành “Cảng nhân trị Cảng, cao độ tự trị” 港人治港, 高度自治, chính phủ trung ương chỉ phụ trách ngoại giao và phòng vụ, tất cả những việc khác do chính phủ đặc khu hành chính dựa theo “Luật cơ bản đặc khu hành chính Hương Cảng của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa” để trị lí. Gọi tắt là “Cảng” .

          Đặc khu hành chính Áo Môn 澳门: Ở phía nam tam giác châu Châu Giang  珠江, phía bắc tiếp giáp với thành phố Châu Hải 珠海tỉnh Quảng Đông 广东, nguyên thuộc huyện Hương Sơn 香山 tỉnh Quảng Đông 广东, do ba bộ phận tổ thành là bán đảo Áo Môn 澳门, đảo Đãng Tử 凼仔(1) và đảo Lộ Hoàn 路环, hiện tại tổng diện tích là 32.8 cây số vuông. Năm Gia Tĩnh 嘉靖 thứ 32 triều Minh (năm 1553), thực dân Bồ Đào Nha mượn cớ phơi khô hoá vật, đã lên bờ cưỡng hành tô chiếm, sau chiến tranh nha phiến không ngừng mở rộng phạm vi, đến năm Quang Tự 光绪 thứ 13 triều Thanh (1887), bức chính phủ triều Thanh cùng đính ước “Trung Bồ lí tư bản thảo ước” 中葡里斯本草约 và “Trung Bồ hoà hảo thông thương điều ước” 中葡和好通商条约, thực hành thống trị thực dân tại Áo Môn. Ngày 26 tháng 3 năm 1987, hai nước Trung Bồ kí tuyên bố liên hợp, tuyên bố vào ngày 20 tháng 12 năm 1999 Trung Quốc khôi phục chủ quyền hành sử đối với Áo Môn. Ngày 20 tháng 12 năm 1999 sau khi về lại Trung Quốc, thành lập Đặc khu hành chính Áo Môn, dựa theo theo nguyên tắc “nhất quốc lưỡng chế” 一国两制 (một nước hai chế độ), thực hành “Áo nhân trị Áo, cao độ tự trị” 澳人治澳, 高度自治, do Đặc khu hành chính dựa theo “Luật cơ bản đặc khu hành chính Áo Môn của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa” tiến hành trị lí. Gọi tắt là “Áo” .     (hết)

Chú của người dịch

1- Chữ này, trang Wikipedia phiên âm là “đãng”.

                                                                          Huỳnh Chương Hưng

                                                                           Quy Nhơn 07/11/2021

Nguyên tác Trung văn

HIỆN HÀNH TỈNH, THỊ, TỰ TRỊ KHU DANH XƯNG ĐÍCH DO LAI

现行省市自治区名称的由来

Trong quyển

TRUNG QUỐC VĂN HOÁ YẾU LƯỢC

中国文化要略

Tác giả: Trình Dụ Trinh 程裕祯

Bắc Kinh: Ngoại ngữ giáo học dữ nghiên cứu xuất bản xã, 2017