Dịch Thuật: Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần (2862) ("Truyện Kiều")

 

HOA CHÀO NGÕ HẠNH, HƯƠNG BAY DẶM PHẦN (2862)

          Hoa chào ngõ hạnh:  ý nói thi đậu.

          Lúc Tô Thức 苏轼 nhậm chức Tri châu tại Từ Châu 徐州, đồng hương với ông là Trương Sư Hậu 张师厚lên kinh thành Khai Phong 开封 thi điện, trên đường ghé lại thăm. Lúc từ biệt, Tô Thức tổ chức tiễn biệt tại đình Phóng Hạc 放鹤, đồng thời làm 2 bài thơ  Tống Thục nhân Trương Sư Hậu phó điện thí nhị thủ 送蜀人张师厚赴殿试二首   để tặng. Ở bài thứ hai có hai câu:

Nhất sắc hạnh hoa hồng thập lí

Tân lang quân khứ mã như phi

一色杏花红十里

新郎君去马如飞

(Sắc của hoa hạnh đỏ cả suốt mười dặm

Tân khoa tiến sĩ lên đường, ngựa phi như bay)

          Theo truyền thuyết, hoa hạnh nở vào tháng 2 âm lịch, đúng vào dịp thi, cho nên hoa còn có tên là “Cập đệ hoa” 及第花 (hoa thi đậu). Còn “tân lang” 新郎 cách xưng hô bắt đầu từ thời Đường gọi tân khoa tiến sĩ. Thời Tống, vào thời gian đó, bên sườn tây của núi Vân Long 云龙, hoa hạnh nở kéo dài từ bắc xuống nam, sắc đỏ của hoa hạnh nổi bật trong rừng tùng xanh biếc, phản chiếu ánh nắng chiều của mùa xuân, hoà cùng tiếng hót của loài xuân điểu đang quay về rừng tạo nên cảnh đẹp của Từ Châu.

http://www.haoshici.com/3641lns.html

http://blog.sina.com.cn/s/blog_48f3e7570100db4e.html

          Và trong Trang Tử - Tạp thiên – Ngư phủ đệ tam thập nhất 庄子 - 杂篇 - 渔父第三十一 có chép:

          Khổng Tử du hồ Tri Vi chi lâm, hưu toạ hồ hạnh đàn chi thượng. Đệ tử độc thư, Khổng Tử đàn ca cổ cầm.

          孔子游乎缁帏之林, 休坐乎杏坛之上. 弟子读书, 孔子弹歌鼓琴.

          (Khổng Tử dạo chơi nơi rừng Tri Vi, ngồi nghỉ nơi hạnh đàn. Đệ tử đọc sách, Khổng Tử đánh đàn ca hát)

          Có thuyết khiên cưỡng cho rằng “hạnh đàn” 杏坛chính là trước điện Đại Thành 大成 tại Khổng miếu 孔庙 ở Khúc Phụ 曲阜. Thời Tống, người cháu đời thứ 45 của Khổng Tử 孔子 là Khổng Đạo Phụ 孔道辅 khi tu sửa tổ miếu, đã dời chính điện ra sau, lấy khoảng trống đắp đàn, trồng cây hạnh chung quanh, gọi đó là “hạnh đàn” 杏坛.

“Hạnh đàn” trong truyền thuyết chỉ nơi Khổng Tử tụ tập môn đệ để truyền thụ kinh sách, hiện cũng dùng để phiếm chỉ nơi dạy học.

https://zhidao.baidu.com/question/12403998.html

            Hương bay dặm phần: ý nói thi đậu vinh hiển trở về lại quê nhà.

          Theo truyền thuyết, thời cổ cha mẹ thường trồng cây tử và cây phần quanh nhà, nên trong văn học cổ thường dùng “tử phần” 梓枌, “phần tử” 枌梓, “tử lí” 梓里  để chỉ quê hương”.

          Cao Thích 高适 trong bài Tống Trung tống tộc điệt Thức Nhan 宋中送族侄式颜 có viết:

Huynh đệ mạc tương kiến

Thân tộc viễn phần tử

兄弟莫相见

亲族远枌梓

(Huynh đệ chẳng gặp được ai

Thân tộc cũng đã rời xa làng quê)

 “Phần tử” 枌梓 chú thích rằng: “đại chỉ hương lí” 代指乡里 (chỉ quê hương).

https://baike.baidu.com/item/%E5%AE%8B%E4%B8%AD%E9%80%81%E6%97%8F%E4%BE%84%E5%BC%8F%E9%A2%9C

Cửa trời rộng mở đường mây

Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần

(“Truyện Kiều” 2861 – 2862)

Ngõ hạnh: Đường ở trong hạnh viên là vườn của nhà vua, cho các tiến sĩ mới đỗ vào ăn yến và xem hoa.

Dặm phần: Đường về quê hương.

(Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)

Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:

          Đường thi: Nhất sắc hạnh hoa hồng thập lý, tân lang quân khứ mã như phi.

          唐詩: 一色杏花紅十里, 新郎君去馬如飛

          (Thơ Đường: Hạnh hoa mười dặm sắc hồng, Tân lang (chàng Tân khoa) duổi ngựa trên đường như bay)

(Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)

Xét: Câu “Hoa chào ngõ hạnh” lấy ý từ 2 câu trong bài Tống Thục nhân Trương Sư Hậu phó điện thí nhị thủ 送蜀人张师厚赴殿试二首 của Tô Thức 苏轼.

          Về tiêu đề bài này, có tư liệu ghi là “Đề Vân Long sơn Phóng Hạc đình” 題云龍山放鶴亭.

          Theo ý riêng, câu 2862 trong “Truyện Kiều”, Kim Trọng và Vương Quan thi đậu (hoa chào ngõ hạnh), vinh hiển trở về lại quê nhà (hương bay dặm phần).

                                                                 Huỳnh Chương Hưng

                                                                 Quy Nhơn 18/4/2021