Dịch thuật: Lễ kinh (kì 3 - Lễ kí) (hết)

 

LỄ KINH

(kì 3) 

Lễ kí 礼记

          Lễ kí礼记là tập luận văn lễ học luận của Nho gia, là bộ sách có địa vị cao nhất, lưu truyền rộng nhất trong Tam lễ. Trứ tác thuộc về loại lí học của lễ nghi, nhân đó vào thời kì đầu nó thuộc về sách tham khảo của bộ Nghi lễ 仪礼, cho nên xưng là “kí” . Biên độ ngang dọc về thời gian thành sách tương đối lớn, thời gian hoàn thành các thiên khác nhau, trên từ Chiến Quốc, dưới đến đầu thời Hán. Tương truyền Hà Gian Hiến Vương 河间献王 sưu tập 131 thiên trứ tác tương quan, ngoài ra, vãn kì thời Tây Hán, Lưu Hướng 刘向 lại thu thập những sách tương tự, tổng cộng 214 thiên. Nho gia Đái Đức 戴德 thời Tây Hán đem biên tập thành 85 thiên, xưng là Đại Đái lễ kí 大戴礼记. Người cháu là Đái Thánh 戴圣đã bỏ chỗ rườm rà lấy chỗ tinh giản, biên thành 46 thiên, gọi là Tiểu Đái lễ kí 小戴礼记. Về sau, Nho gia Mã Dung 马融 thời Đông Hán lại bổ sung 3 thiên, tổng cộng thành 49 thiên, thành bộ Lễ kí 礼记 mà ngày nay chúng ta thấy.  Lại do bởi được đại Nho Trịnh Huyền 郑玄 thời Đông Hán chú thích xuất sắc mà càng thêm nổi danh, địa vị của Lễ kí 礼记 từ là sách tham khảo cho bộ Nghi lễ 仪礼 đã một bước nhảy lên thành sách giáo khoa. Đời Đường, chính phủ đem nó với Chu lễ 周礼, Nghi lễ 仪礼cùng xếp vào loại kinh. Còn Đại Đái lễ kí大戴礼记  trong sự cạnh tranh với Tiểu Đái lễ kí小戴礼记 đã u ám thất sắc, mất hơn một nửa, đến nay chỉ bảo lưu 39 thiên.

          Nội dung của Lễ kí 礼记vô cùng rộng lớn, nhưng chủ yếu không phải là lưu trình nghi thức hoàn chỉnh, mà đa phần là lể tiết tiểu tiết, chế độ quy chương chi tiết, cùng với lí tưởng chính trị của Nho gia, đã bổ sung nhiều nội dung mà Nghi lễ 仪礼 chưa ghi chép. Thiên đầu tiên của Lễ kí 礼记 Khúc lễ 曲礼, tức lễ tiết tiểu tiết, hàm chứa mọi phương diện của cuộc sống xã hội thường ngày. Bao gồm lễ tiết phải tuân thủ mà quân thần thường ngày vấn đáp, lễ tiết khi thần tử tiến hiến vật phẩm lên quốc quân, lễ tiết tiếp nhận thức ăn và lễ vật mà quốc quân ban tặng; lễ tiết giao tiếp qua lại những những người có tuối tác khác nhau; lễ tiết qua lại giữa thầy và trò; phương thức xưng danh qua lại giữa những người có địa vị xã hội khác nhau; danh xưng đối với thân phận khác nhau của người đã mất, cùng với các loại cấm kị trong quá trình săn bắn, tế tự, tang táng, nhiều không kể xiết.

          Thứ đến là thiên Đàn Cung 檀弓, chủ yếu thảo luận về lễ tang táng. Đàn Cung, họ Đàn tên Cung , người nước Lỗ, tinh thông lễ nghĩa. Thiên này do Đàn Cung khi điếu tang, chất nghi Công Nghi Trọng Tử 公仪仲子 lập con thứ làm người kế thừa mà không lập đích tôn, ghi chép lại những quy phạm lễ tiết về thời gian phục tang; ngôn ngữ, cử chỉ, ẩm thực khởi cư, búi tóc, phục sức mà người phục tang cần phải tuân thủ, cùng với những quy định về cách bài trí khí vật tang táng và đồ trang sức. Tương quan còn có Bôn tang 奔丧, Vấn tang 问丧, Tam niên vấn 三年问, Tang phục tiểu kí 丧服小记, Tang phục tứ chế 丧服四制, đều là những bổ sung tiểu tiết đối với Sĩ tang lễ, và bổ sung ý nghĩa đối với lễ nghi tang táng.

          Ngoài ra, thiên Vương chế 王制thuật lại chế độ quy chương của quân chủ thời cổ trị lí thiên hạ, liên quan đến chế độ các phương diện như phong quốc, chức quan, tước lộc, tế tự, tang táng, hình phạt, tuyển quan, giáo dục, thậm chí cả dưỡng lão. Thiên Nội tắc 内则ghi chép những quy tắc gia đình của sĩ đại phu cùng chế độ kính lão. Thiên Nguyyệt lệnh 月令 thuật rõ chế độ phối hợp về thời lệnh, tinh tú, nông sự, tế tự. Thiên Thiếu nghi 少仪 thì tạp ghi các loại tương quan “tế tiểu uy nghi” 细小威仪, như tương kiến, tế tự, sự phụng trưởng quan v.v... Thiên Đầu hồ 投壶  (1) giới thiệu lễ nghi xã giao của quý tộc cổ đại lúc đầu hồ. Các thiên Quán nghĩa 冠义, Hôn nghĩa 昏义, Hương ẩm tửu nghĩa 乡饮酒义, Xạ nghĩa 射义, Yến nghĩa 燕义, Sính nghĩa 聘义, đều là bổ sung những chỗ chưa đủ của quyển Nghi lễ 仪礼, có giá trị sử liệu độc đáo và ý nghĩa sâu xa về triết học. Do bởi độ dài ngắn của Lễ kí 礼记 rất lớn, nội dung phức tạp, có thể nói mặt nào cũng có, rất nhiều loại.

          Trong đó, thiên mục nổi tiếng nhất, chẳng thiên nào qua được thiên Đại học 大学 và thiên Trung dung 中庸 được Chu Hi 朱熹tuyển chọn đưa vào trong Tứ thư 四书. Gọi là “Đại học”, tức học vấn tối đại, chí cao vô thượng. Theo cách nhìn của Nho gia, học vấn tối đại chẳng gì qua được về đạo đức có thể đạt đến sự hoàn mĩ, về công nghiệp có thể bình định thiên hạ, đó gọi là “Nội thánh ngoại vương” 内圣外王. Lộ trình thực hiện lí niệm tối cao của nó được gọi là “tam cương lĩnh” 三纲领, tức minh minh đức 明明德, thân dân 亲民, chỉ vu chí thiện 止于至善; “bát điều mục” 八条目, tức cách vật 格物, trí tri 致知, thành ý 诚意, chính tâm 正心, tu thân 修身, tề gia 齐家, trị quốc 治国, bình thiên hạ 平天下. Đại học còn đem tam cương lĩnh và bát điều mục tiến hành tổng quát, “Tự thiên tử dĩ chí vu thứ nhân, nhất giai dĩ tu thân vi bản” 自天子以至于庶人, 一皆以修身为本 (2) (Từ thiên tử cho đến thứ nhân, ai cũng đều lấy tu thân làm gốc). Đó chính là cường điệu trong xã hội và trong chính trị, đạo đức có tính tuyệt đối.

          Trung dung 中庸 lần đầu tiên đề xuất khái niệm thiên mệnh nhân tính, mở đầu thiên nói rằng:

Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo vị chi giáo.

天命之谓性, 率性之谓道, 修道之谓教

          Ý nghĩa câu đó là nhân tính có nguồn gốc từ thiên mệnh, học theo tính mà làm thì có thể phù hợp với thiên đạo, tuân theo tính mà làm là việc cần phải tu tập, đó chính là giáo hoá. Giáo hoá mà Trung dung nói tới chính là lễ nhạc giáo hoá. Thông qua lễ nhạc giáo hoá, người ta sẽ biết thường ngày làm việc như thế nào để không thiên lệch, xử lí tốt các mối quan hệ của con người. Cho nên hậu thế gọi sách Trung dung中庸 là tâm pháp của Nho gia, chính là đạo lí này. Khổng Tử 孔子 từng cảm thán rằng:

Trung dung chi vi đức dã, kì chí hĩ hồ, dân tiên cửu hĩ.

中庸之为德也,其至矣乎,民鲜久矣

(“Trung dung” là một loại đạo đức, nó là tối cao! Nhưng mà người ta từ rất lâu đã thiếu loại đạo đức này)

                                                                      (Luận ngữ - Ung dã 论语 - 雍也)

          Chính do vì Khổng Tử cảm thán trung dung là khó có được, nên càng khiến trung dung trở thành nguyên tắc luân lí mà Nho gia cực tôn sùng.

          Sự thực, tình hình các đời các triều có khác nhau, trước giờ không tồn tại tình hình dựa theo lễ kinh để chế tác lễ nghi một cách nghiêm túc. Trong Nhị thập tứ sử, mỗi sử thư đều có Lễ thư 礼书, Lễ chí 礼志, Lễ nhạc chí 礼乐志 ... , như Khổng Tử có nói:

          Ân Thương kế thừa lễ nhạc của nhà Hạ, nhưng có chỗ tăng giảm; nhà Chu kế thừa được lễ nhạc của Ân Thương, nhưng cũng có chỗ tăng giảm. Tương lai cũng sẽ như thế.

          Cho nên hoàn toàn không tồn tại lễ mà về hình thức vật chất nguyên viễn lưu trường, huống hồ Chu lễ 周礼vốn là mô thức chính trị lí tưởng, không có tính hiện thực, mà tính thực dụng của Nghi lễ 仪礼cũng dần bị tiêu ma trong sự phát triển của lịch sử. Lễ kí 礼记thì không như thế, thiên mở đầu nói rằng:

Vô bất kính, nghiễm nhược tư, an định từ, an dân tai.

毋不敬, 俨若思, 安定辞, 安民哉.

(Chớ có mà không kính trọng, nghi dung nên đoan chính như có điều lo nghĩ, ngôn từ phải khoan thai xác định, có như thế mới có thể khiến dân tâm ổn định.)

Là nguyên tắc có giá trị được rút ra từ trong chế độ lễ nghi cụ thể ở Chu lễ 周礼Nghi lễ 仪礼, nó mang tính phổ biến, tính phổ thông, đương nhiên cũng có thể vượt qua thời đại, càng được nhiều người tiếp nhận.   (hết)

Chú của người dịch

1- Đầu hồ 投壺: Là một môn vui chơi giải trí kèm theo trong lúc yến tiệc mang tính lễ tiết ở thời cổ. Đặt một chiếc bình (hồ ), chủ và khách tại một khoảng cách nhất định thay phiên nhau ném tên (thỉ ), người nào ném tên vào bình được nhiều là người thắng, người thua bị phạt uống mấy li rượu theo quy định.  

          (Theo Lễ kí dịch giải 禮記譯解 của Vương Văn Cẩm 王文錦, Trung Hoa thư cục xuất bản năm 2007)

2- Ở câu này, trong nguyên tác không có chữ (thị). Theo Tứ thư 四書 (ngôn văn đối chiếu) của Quảng Trí thư cục 廣智書局, 1964?  Lễ kí dịch giải 禮記譯解 của Vương Văn Cẩm 王文錦, Trung Hoa thư cục xuất bản năm 2007, đều có chữ (thị).

Tự thiên tử dĩ chí vu thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản

自天子以至于庶人, 皆以修身为本

                                                                        Huỳnh Chương Hưng

                                                                         Quy Nhơn 22/3/2021

Nguyên tác

LỄ KINH

礼经

Biên soạn: Chu Uân 周贇

Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 20019