Dịch thuật: Triều thẩm và Thu thẩm


TRIỀU THẨM VÀ THU THẨM

Triều thẩm 朝审
          Một loại chế độ thẩm phán của hai triều Minh, Thanh. Sau thu, trước khi quyết xử tội phạm, sẽ do trọng thần triều đình cùng thẩm tra lại tử tù. Năm Thiên Thuận 天顺 thứ 3 đời Minh Anh Tông 明英宗 (1) (năm 1459) xuất phát từ quan niệm “nhân mệnh chí (tối) trọng, tử giả bất khả phục sinh” 人命至 (), 重死者不可复生 (mạng người là quan trọng nhất, người đã chết thì không thể sống lại được), đã chế định ra chế độ triều thẩm. Mỗi năm sau tiết Sương giáng 霜降, Tam pháp ti sẽ hội đồng với nhiều quan viên hội thẩm tử tù tại bên ngoài Thừa Thiên môn 承天门. Tử tù thường nhân đó được giảm hình. Triều thẩm của triều Thanh bắt đầu từ năm Thuận Trị 顺治 thứ 10 (năm 1653), đối tượng được thẩm phán, hạn chế là tù phạm của nhà ngục Hình bộ 刑部 ở kinh sư.

Thu thẩm 秋审
          Mỗi năm vào mùa thu, trưởng quan Hình bộ 刑部hội đồng với trưởng quan của Đại lí tự 大理寺, Đô sát viện 都察院 thẩm lí tội phạm mà đã dự định tử hình do các tỉnh báo lên. Trong Lễ kí – Nguyệt lệnh 礼记 - 月令 có nói: Tháng đầu tiên của mùa thu tuyên bố phán quyết án kiện hình sự. Tiêu Hà 萧何 đời Hán khởi thảo hình luật, quy định Lập thu phán quyết hình án. Thời Minh, Thanh, mỗi năm sau Lập xuân, các ti của Hình bộ đem những vụ án tử hình của các tỉnh đợi phê chuẩn báo lên để phân loại ghi vào sổ sách, sau đó chuyển đến Thu thẩm xứ 秋审处 của Hình bộ. Thu thẩm xứ đề xuất ý kiến xét duyệt sơ bộ, giao Hình bộ đường 刑部堂 nghị bàn. Hình bộ trước trung tuần tháng 5, do Chánh, Phó đại thần và Tả, Hữu thị lang tiến hành thẩm nghị, đồng thời đem tài liệu nguyên án và ý kiến xét duyệt của Hình bộ chuyển giao cho các đại thần nội các thẩm duyệt. Trung tuần tháng 8, tại triều phòng朝房 (2) tiến hành hội thẩm. Nếu không có ý kiến khác, phán quyết sẽ được định. Nếu có tranh chấp, Hình bộ sẽ báo lên xin hoàng đế phán quyết. Phán quyết Thu thẩm phân làm 5 loại:
          - “Tình thật” 情实 (tội tình xác thực).
          - “Hoãn quyết” 缓决 (tội tình không phải là nghiêm trọng nhất, có thể không giết).
          - “Khả căng” 可矜 (thương xót, đồng tình), chỉ các hạng người như già, trẻ con, tàn tật.
        - “Lưu dưỡng thừa tự” 留养承祀 (con một, hoặc cha mẹ bệnh, già không người phụng dưỡng)
          - “Khả nghi” 可疑 (án tình hãy còn điểm nghi ngờ, cần phải nghiên cứu thêm).
          Tội phạm “tình thật”, xử quyết trước tháng 10. Tội phạm “khả căng” giảm xuống còn lưu hình流刑 (3), đồ hình徒刑 (4). Tội phạm “hoãn quyết” và “lưu dưỡng thừa tự” y theo quy định của pháp luật mà giảm hình. Đời Thanh xếp Thu thẩm vào hàng đại điển của quốc gia, biểu thị “thận hình” 慎刑 (tức cẩn thận khi sử dụng hình phạt, chịu trách nhiệm đối với bách tính).

Chú của người dịch
1- Thiên Thuận 天顺 là niên hiệu của Minh Anh Tông Chu Kì Trấn 明英宗朱祁镇, niên hiệu này từ năm 1457 đến năm 1464. Trong nguyên tác in nhầm là Minh Hoàng Tông 明黄宗.
2- Triều phòng 朝房: Nơi bách quan đợi để nhập triều.
3- Lưu hình 流刑: Hình phạt đi đày.
4- Đồ hình 徒刑: Hình phạt tù.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 29/4/2020

Nguồn
TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
中国古代文化常识
Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅
                  Đào Tịch Giai 陶夕佳
                  Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波
Tam Xuân xuất bản xã, 2008
Previous Post Next Post