Dịch thuật: A đổ chi vật (Thế thuyết tân ngữ)



阿堵之物
王夷甫雅尚玄远, 常疾其妇贪浊, 口未尝言. 妇欲试之, 令婢以钱绕床, 不得行. 夷甫晨起, 见钱阂 (1) , 呼婢曰: “举却阿堵物!”
                                                                  (世说新语 - 规箴)

A ĐỔ CHI VẬT
          Vương Di Phủ nhã thượng huyền viễn, thường tật kì phụ tham trọc, khẩu vị thường ngôn “tiền” tự. Phụ dục thí chi, lệnh tì dĩ tiền nhiễu sàng, bất đắc hành. Di Phủ thần khởi, kiến tiền hặc (1) hành, hô tì viết: “Cử khước a đổ vật!”
                                                             (Thế thuyết tân ngữ - Quy châm)

A ĐỔ CHI VẬT
          Vương Di Phủ trước giờ sùng thượng huyền lí, thường ghét vợ mình tham lam, miệng ông chưa từng nói qua chữ “tiền”. Bà vợ muốn thử ông, sai tì nữ lấy tiền đặt chung quanh giường để ông ta không thể bước đi. Vương Di Phủ sáng sớm thức dậy, thấy tiền cản bước chân, liền gọi tì nữ đến bảo rằng: “Đem những vật này đi chỗ khác!”

Chú của người dịch
Chữ trong nguyên tác có ghi bính âm là he với thanh 2. Chữ trong Khang Hi tự điển 康熙字典 có 4 bính âm:
ai (thanh 4), hai (thanh 4), he (thanh 2), kai (thanh 3)
Với bính âm he (thanh 2) có phiên thiết là HỘT   TẮC , âm (hặc). Như vậy chữ ở đây đọc là “hặc”.

Thế thuyết tân ngữ 世说新语 : bộ bút kí tiểu thuyết thuật lại những huyền học ngôn đàm dật sự của sĩ đại phu thời Nguỵ Tấn. Trong đó có thể nhìn thấy ngôn đàm về huyền học thời Nguỵ Tấn đã trở thành phong thượng, mà huyền học chính là lấy tư tưởng Lão Trang làm gốc. Tư tưởng của Đạo gia đối với phương thức tư duy và trạng thái sinh hoạt của sĩ đại phu thời Nguỵ Tấn, thậm chí phong khí của cả xã hội đều sản sinh ảnh hưởng quan trọng. Tác phẩm này do Lâm Xuyên Vương Lưu Nghĩa Khánh 临川王刘义庆, thuộc dòng dõi tông thất nhà Lưu Tống thời Nam Bắc triều đã tập hợp một số văn nhân biên soạn, Lưu Tuấn 刘峻 đời Lương viết lời chú. Toàn sách nguyên có 8 quyển, bản chú của Lưu Tuấn phân làm 10 quyển. Các bản hiện nay đều là 3 quyển phân làm 36 môn như: đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự, văn học, phương chính, nhã lượng v.v… Toàn sách tổng cộng hơn 1000 tắc, kí thuật những dật văn dật sự của danh sĩ quý tộc từ cuối đời Hán đến thời Lưu Tống, chủ yếu là những câu chuyện có liên quan đến việc bình luận, thanh đàm huyền ngôn và ứng đối cơ trí của các nhân vật.
          Lưu Nghĩa Khánh 刘义庆 (năm 403 – khoảng năm 444): người Bành Thành 彭城 (nay là Từ Châu 徐州 Giang Tô 江苏), văn học gia thời Nam triều, thuộc dòng dõi tông thất nhà Lưu Tống, được tập phong Lâm Xuyên Vương 临川王, nhậm chức Thứ sử Kinh Châu 荆州. Ông giữ chức được 8 năm, chính tích rất tốt. Sau nhậm chức Thứ sử Giang Châu 江州, được một năm, nhân vì đồng tình với một viên quan bị biếm là Vương Nghĩa Khang 王义康 đã xúc nộ Văn Đế, bị điều về kinh đổi làm Thứ sử Nam Kinh Châu 南京州, Đô đốc gia khai phủ nghi đồng tam ti. Chẳng bao lâu vì bệnh ông từ chức.
Lưu Nghĩa Khánh mất năm Nguyên Gia 元嘉 thứ 21 ở Kiến Khang 建康 (nay là Nam Kinh)
          Lưu Nghĩa Khánh từ nhỏ đã tài hoa xuất chúng, yêu thích văn học. Ngoài Thế thuyết tân ngữ 世说新语 ra, ông còn có tiểu thuyết chí quái U minh lục 幽明录.
          Nguồn http://baike.baidu.com/view/39662.htm
          Tắc A đổ vật  thuộc môn Quy châm.

                                                                      Huỳnh Chương Hưng
                                                                      Quy Nhơn 09/6/2018

Nguồn
THẾ THUYẾT TÂN NGỮ
世说新语
Tác giả: Lưu Nghĩa Khánh 刘义庆
Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002.
Previous Post Next Post