Dịch thuật: Tại sao "Thập nhất diện Quán Âm" có 11 khuôn mặt

TẠI SAO “THẬP NHẤT DIỆN QUÁN ÂM”
  CÓ 11 KHUÔN MẶT

Ý nghĩa “thập nhất diện”
          Quán Âm có thể tuỳ lúc tuỳ nơi thể hiện “chúng đa diệu dung” 众多妙容, nhưng tại sao cùng một lúc lại hiển hiện 11 khuôn mặt? Sự sắp xếp khuôn mặt của Thập nhất diện Quán Âm 十一面观音ẩn tàng huyền cơ gì? Khu vực tín ngưỡng khác nhau có những giải thích khác nhau.
          Thập nhất diện Quán Âm thịnh hành ở Trung Quốc có hình chế đa dạng, có thể là 1 tầng, 2 tầng, 3 tầng hoặc 4 tầng, thể hiện mô thức bất đồng, thường thấy nhất là cách tạo hình 4 tầng, lần lượt hiển hiện từ tướng 慈相, sân tướng 嗔相, bạch nha thượng xuất tướng 白牙上出相 và bạo tiếu tướng 暴笑相. Có thuyết nói 11 khuôn mặt này đại biểu cho 11 giai đoạn tu hành của Bồ Tát Đại thừa, lần lượt là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, tĩnh lự, bát nhã, phương tiện thiện xảo, trí đẳng, gọi là “thập địa” 十地. Khuôn mặt chính (chủ diện 主面) đại biểu cho Phật quả cuối cùng thứ 11.
          Thập nhất diện Quán Âm của Tây Tạng đem 11 khuôn mặt sắp xếp thành 5 tầng, tạo hình giống kim tự tháp. Những khuôn mặt này tượng trưng cho Pháp thân Phật, Báo thân Phật và Ứng thân Phật, đồng thời cũng biểu đạt hoàn chỉnh nghĩa lí của ngũ bộ Mật tông và ngũ phương Phật. Tầng trên cùng (tầng thứ 5) là A Di Đà Phật 阿弥陀佛với sắc da đỏ, tượng trưng cho Liên Hoa bộ 莲华部 đến từ Tây phương, đồng thời đại biểu cho “Pháp thân Phật”. Tiếp đó (tầng thứ 4) Nộ Mục Kim Cang Thủ Bồ Tát 怒目金刚手菩萨 với sắc da xanh, đại biểu cho “Báo thân Phật”, sắc da xanh trên thân được xem là sắc điều phục. 3 tầng tiếp dưới mỗi tầng 3 mặt, đều là “Ứng thân Phật” với 3 sắc vàng, trắng, xanh lục nối nhau biến hoá. Với 3 sắc này, khi sắc vàng ở giữa tượng trưng cho Bảo bộ 宝部, sắc trắng ở giữa đại biểu cho Phật bộ 佛部, sắc xanh ở giữa đại biểu cho Nghiệp bộ 业部. Từ trên xuống dưới 5 tầng đại biểu hoàn chỉnh 5 bộ, ý nghĩa đại biểu của màu sắc nhất trí với Ngũ phương Phật.

Hình tượng Quán Âm biến hoá sớm nhất
          Trong lịch sử tạo tượng, Thập nhất diện Quán Âm còn có một ý nghĩa quan trọng: đó có thể là Quán Âm hình tượng biến hoá xuất hiện sớm nhất, cũng chính là từ mô thức 1 đầu 2 tay của người thường, bắt đầu chuyển biến thành mô thức nhiều đầu nhiều tay khác với người thường. Trước mắt hình thức Thập nhất diện Quan Âm với 2 tay phát hiện sớm nhất, có niên đại khoảng cuối thế kỉ thứ 5, mà đại biểu là ở hang số 41 trong dãy hang động tại Cam Hách Thuỵ 甘赫瑞 (Kanheri) tỉnh Mã Cáp Lạp Tư Đặc 马哈拉斯特 (Maharastra) thuộc Ấn Độ.

Đến từ tín ngưỡng Phệ Đà cổ xưa
          Nguyên gốc của tín ngưỡng Thập nhất diện Quán Âm rất xưa, mượn từ tín ngưỡng thời Phệ Đà 吠陀 của Ấn Độ cổ.
          Trước tiên nói về nguồn gốc của chữ số “thập nhất”. Thời Phệ Đà cổ, tam giới gồm thiên, không, địa có 33 vị thần. Thiên giới, không giới, địa giới mỗi nơi phối trí 11 vị thần. Thập nhất diện Quán Âm có khả năng từ khái niệm đó nhiếp thủ mà ra.
          Ngoài ra còn có cách nói tương đối cụ thể là, Thập nhất diện Quán Âm đến từ Thập nhất diện Hoang Thần 十一面荒 (Ekadasa-ruda) trong giáo lí Bà La Môn. Thập nhất diện Hoang Thần không những là hình tượng có 11 khuôn mặt, mà còn có thể có 2 tay, 4 tay, 8 tay, phảng phất Thập nhất diện Quán Âm. Hoang Thần có 1000 con mắt, bụng đen, có tượng có cổ sắc xanh lục, toàn thân sắc nâu, mặc kim trang, xoả tóc, tay cầm cung tên, bình thường ở trong núi sâu. Tính khí Hoang Thần rất lớn, một khi phát nộ, liền dùng sấm sét lạm sát người và súc vật, làm tổn hại cây cỏ, mọi người vô cùng sợ, đều kính nhi viễn chi. Nhưng, Hoang Thần hoàn toàn không phải là ác thần, mà cũng có mặt thiện lương, về sau biến thành một vị đại thiện thần, có thể cứu chữa bệnh tật cho con người và súc vật. Vị Hoang Thần này chính là vị thần cổ xưa, đến sau này biến thành Thấp Bà Thần 湿婆神, vị thần tối cao của Ấn Độ giáo. Thấp Bà Thần có 1008 tên, trong đó có tên “Thập nhất tối thắng” 十一最胜, cũng chính là “Thập nhất diện”.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 17/8/2016

Nguyên tác Trung văn trong
QUAN ÂM TIỂU BÁCH KHOA
观音小百科
Tác giả: Nhan Tố Tuệ 颜素慧
Trường Sa – Nhạc Lộc thư xã, 2002
Previous Post Next Post