Dịch thuật: Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời (1368) ("Truyện Kiều")


CHỈ NON THỀ BỂ NẶNG GIEO ĐẾN LỜI (1368)
Chỉ non thề bể: tức “thệ hải minh sơn” 誓海盟山, hay “hải thệ sơn minh”, ví nam nữ yêu nhau, cùng thề tình yêu vĩnh hằng như núi cao như biển lớn. Cũng có thể nói “thề non hẹn biển”.
          Điển xuất từ bài từ Cát tịch 吉席 theo điệu Mãn đình phương 满庭芳  của Hồ Hạo Nhiên 胡浩然 đời Tống:
Hoan ngu đương thử tế
Hải thệ sơn minh
Địa cửu thiên trường
欢娱当此际
海誓山盟
地久天长
(Vui vầy lúc này
Hẹn biển thề non
Cùng với trời đất dài lâu)
(“Thành ngữ đại từ điển” 成语大词典, Bắc Kinh: Thương vụ ấn thư quán, Quốc Tế hữu hạn công ti, 2004)

Cùng nhau căn vặn đến điều
Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời
(“Truyện Kiều” 1367 – 1368)
Chỉ non thề bể: Dịch chữ “thệ hải minh sơn” tức là lấy biển và núi làm chứng cho lời thề, ý giữ lời thề bền vững như núi như biển. Thành ngữ này chỉ dùng trong chuyện thề thốt yêu đương.
(Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 30/7/2020