Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

Dịch thuật: Công Tôn Hạ (Tể tướng Trung Quốc)

Đăng lúc  17:47  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật

CÔNG TÔN HẠ

          Công Tôn Hạ 公孙贺 (? – năm 91 trước công nguyên), tự Tử Thúc 子叔. Tể tướng thời Hán Vũ Đế 汉武帝 triều Tây Hán. Nhân vì bị người vu cáo mà chết trong ngục.

          Công Tôn Hạ, người Nghĩa Cừ 义渠 Bắc Địa 北地 (nay là phía tây nam Hợp Thuỷ 合水 tỉnh Cam Túc 甘肃). Mẫu thân là chị của Vệ hoàng hậu 卫皇后 của Vũ Đế, là ngoại thích. Tổ phụ ông là Công Tôn Hồn Da 公孙昆邪 (1), nhậm chức Thú ở Lũng Tây 陇西 triều Cảnh Đế 景帝, có công trong việc dẹp loạn 7 nước, được phong làm Bình Khúc Hầu 平曲侯.
          Công Tôn Hạ lúc trẻ từng làm kị sĩ, nhiều lần lập chiến công. Khi Vũ Đế còn là thái tử, ông được triệu làm Thái tử xá nhân 太子舍人. Vũ Đế lên ngôi, ông được thăng là Thái bộc 太仆. Do bởi Công Tôn Hạ là cháu gọi Hoàng hậu băng dì, được Vũ Đế tin dùng, trước sau được thăng làm Khinh kị tướng quân 轻骑将军, nhiều lần xuất chinh.
          Năm 103 trước công nguyên, Thừa tướng Thạch Khánh 石庆 bệnh và qua đời, Công Tôn Hạ được bái làm Thừa tướng. Ngày bái Tướng, ông nghĩ đến mấy vị Thừa tướng trước đó như Lí Thái 李蔡, Trang Thanh Địch 庄青翟, Triệu Chu 赵周 đều bị tru sát, Thạch Khánh tuy may mắn qua đời an lành, nhưng thời gian nhậm chức nhiều lần gặp phải sự trách cứ của Vũ Đế, thiếu chút nữa mất mạng. Cho nên, ông càng nghĩ càng sợ, cảm thấy làm bạn với vua như làm bạn với hổ nên đã dập đầu khóc lóc xin từ, không chịu tiếp nhận ấn Tướng, nói rằng:
          - Thần vốn là thảo dân nơi biên cảnh, lấy yên ngựa, kị xạ mà nhậm chức võ tướng, quả thực không đủ sức để đảm nhậm chức vụ Thừa tướng trọng yếu này.
          Vũ Đế sai tả hữu nâng ông dậy, ông dùng dằng không chịu đứng lên, nhất định đòi Vũ Đế đáp ứng không bái ông làm Tướng. Vũ Đế tức giận, phất tay áo bỏ đi, ông đành phải thu nhận ấn Tướng.
          Công Tôn Hạ vì là ngoại thích mà bái Tướng, quả thực không có tài trị quốc. Thời gian nhậm chức, ông chỉ biết mở rộng ruộng đất, mưu lợi cho con em thân thuộc. Tướng sĩ nơi biên cảnh thiếu lương thực, quân tâm bất an, ông cũng không nghĩ ra được biện pháp nào hay để giải quyết. Ông tham tang nhận hối lộ, khiến việc hối lộ chốn quan nha thành tục. Những điều này khiến Vũ Đế đối với ông ngày càng bất mãn.
          Con của Công Tôn Hạ là Công Tôn Kính Thanh 公孙敬声, được tập chức của phụ thân làm Thái bộc. Công Tôn Kính Thanh tự thị mình là hoàng thân, kiêu xa bất pháp. Năm 92 trước công nguyên, nhân vì tự ý dùng gần 2 ngàn vạn quân lương của Bắc quân, sau khi án phát ra bị bắt bỏ ngục. Đương thời, có Chu Thế An 朱世安 người ở Dương Lăng 阳陵 tại kinh thành cướp của người giàu đem cứu người nghèo, khiến cho đạt quan hiển nhân hoảng sợ bất an, mọi người gọi anh ta là đại hiệp của kinh sư. Vũ Đế mấy lần hạ chiếu đi bắt nhưng đều bắt không được. Công Tôn Hạ xin được đi bắt Chu Thế An, để chuộc tội cho con là Công Tôn Kính Thanh. Chu Thế An sau khi bị bắt, cười lớn nói với Công Tôn Hạ rằng:
          - Cả tộc của Thừa tướng sắp bị diệt rồi đấy!
Đồng thời trong ngục dâng thư, cáo phát Công Tôn Kính Thanh tư thông với công chúa Dương Thạch 阳石 con gái của Vũ Đế, lại còn sai người giấu tượng gỗ nơi trì đạo cung Cam Tuyền 甘泉ở  Bắc sơn 北山 nơi Vũ Đế thường đến, nguyền rủa Vũ Đế chết sớm. Đương thời, Vũ Đế tuổi đã cao, rất mê tín, cho rằng dùng tượng gỗ chôn dưới đất để nguyền rủa, có thể khiến người tử vong, gọi đó là “vu cổ” 诬蛊. Vũ Đế nghe qua cả giận, chẳng phân đen trắng cho bắt Công Tôn Hạ giam vào đại lao, dùng nghiêm hình tra khảo. Năm sao, Công Tôn Hạ và Công Tôn Kính Thanh đều chết trong ngục.

Chú của người dịch
1- Về tên nhân vật 公孙昆邪:
          Chữ :
          Trong Khang Hi tự điển 康熙字典, chữ có mấy bính âm sau: kun (thanh 1), hun (thanh 2), hun (thanh 3).
          Với bính âm hun (thanh 2)
          Tập vận 集韵, Vận hội 韵會  đều phiên thiết là HỒ CÔN 胡昆, âm (hồn). Nhân danh. Giải thích rằng:
Hán hữu Thuộc quốc Công Tôn Hồn Da
汉有属国公孙昆邪
(Đời Hán có Thuộc quốc Công Tôn Hồn Da)
(Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 436 – 437)

          Chữ :
         Trong Khang Hi tự điển 康熙字典, chữ có mấy bính âm sau: xie (thanh 2), ye (thanh 2), yu (thanh 2) hoặc ya (thanh 2), she (thanh 2), zuo (thanh 3).
          Với bính âm ye (thanh 2) hoặc ya (thanh 2)
          Đường vận 唐韵 phiên thiết là DĨ GIÀ 以遮.
          Tập vận 集韵, Vận hội 韵會, Chính vận 正韻  phiên thiết là DƯ GIÀ 余遮
Đều có âm là (da).
Trong Thuyết văn 說文 có Lang Da 琅邪, tên quận. Có Mạc Da 莫邪, tên kiếm, do Đại phu Mạc Da莫邪 nước Ngô tạo ra nên có tên như thế.
          Có Hô Hàn Da 呼韓邪, tên của Hung Nô vương. Nhược Da 若邪 tên sông. Tư Da 胥邪 tên cây.
(Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 1255)

          Với 公孙昆邪, 2 chữ 昆邪 có bính âm là公孙昆 (hún) (yé).
Như vậy tên nhân vật đọc là Công Tôn Hồn Da.

                                                        Huỳnh Chương Hưng
                                                        Quy Nhơn 19/8/2018

Nguyên tác Trung văn
CÔNG TÔN HẠ
公孙贺
Trong quyển
TRUNG QUỐC LỊCH ĐẠI TỂ TƯỚNG LỤC
中国历代宰相录
Chủ biên: Dương Kiếm Vũ 杨剑宇
Thượng Hải văn hoá xuất bản xã, 1999

Chia sẻ bài viết

Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
back to top