Thứ Ba, 26 tháng 3, 2019

Dịch thuật: Tức Mặc chi chiến (kì 4)

Đăng lúc  23:09  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật



TỨC MẶC CHI CHIẾN
(kì 4)

          田单令城中人食, 必祭其先祖于庭 (1), 飞鸟皆翔舞而下城中 (2). 燕人怪之, 田单因宣言曰: 当有神师下教我.有一卒曰: 臣可以为师乎?因反走 (3). 田单起引还, 坐东向 (4), 师事之 (5). 卒曰: 臣欺君.田单曰: 子勿言也! (6)因师之. 每出约束, 必称神师. 乃宣言曰: 吾唯惧燕军之劓所得齐卒 (7), 置之前行 (8), 即墨败矣!燕人闻之, 如其言 (9). 城中见降者尽劓 (10), 皆怒, 坚守, 唯恐见得 (11). 单又纵反间, :吾惧燕人掘吾城外冢墓 (12), 可为寒 (13)!”  燕军尽掘冢墓, 烧死人. 齐人从城上望见, 皆涕泣 (14), 共欲出战, 怒自十倍 (15).

Phiên âm
          Điền Đan lệnh thành trung nhân thực, tất tế kì tiên tổ vu đình (1), phi điểu giai tường vũ nhi há thành trung (2). Yên nhân quái chi, Điền Đan tuyên ngôn viết: “Đương hữu Thần sư há giáo ngã.” Hữu nhất tốt viết: “Thần khả dĩ vi sư hồ?” Nhân phản tẩu (3). Điền Đan khởi dẫn hoàn, toạ đông hướng (4), sư sự chi (5). Tốt viết: “Thần khi quân.” Điền Đan viết: “Tử vật ngôn dã! (6)” Nhân sư chi. Mỗi xuất ước thúc, tất xưng Thần sư. Nãi tuyên ngôn viết: “Ngô duy cụ Yên quân chi tị sở đắc Tề tốt (7), trí chi tiền hành (8). Tức Mặc bại hĩ!” Yên nhân văn chi, như kì ngôn (9). Thành trung kiến hàng giả tận tị (10), giai nộ, kiên thủ, duy khủng kiến đắc (11). Đan hựu túng phản gián, ngôn: “Ngô cụ Yên nhân quật thành ngoại trủng mộ (12), khả vi hàn tâm (13)!” Yên quân tận quật trủng mộ, thiêu tử nhân. Tề nhân tùng thành thượng vọng kiến, giai thế khấp (14), cộng dục xuất chiến, nộ tự thập bội (15).

Chú thích
1- Đình : sân
2- Tường vũ 翔舞: bay lượn vòng.
3- Nhân phản tẩu 因反走: quay người lại bỏ chạy. Nhân : tức
4- Toạ đông hướng 坐东向: mời sĩ tốt này ngồi quay mặt về hướng đông. Thời cổ cho ngồi quay mặt về hướng đông là tôn quý.
5- Sư sự chi 师事之: dùng lễ tiết đối đãi với thầy mà thị phụng anh ta.
6- Tử vật ngôn 子勿言: anh không được nói lộ ra. Ở đây Điền Đan dặn anh ta không nên đem việc giả làm thần sư nói lộ ra.
7- Tị : tị hình, tức hình phạt cắt mũi.
8- Tiền : liệt bày.
9- Như kì ngôn 如其言: làm theo lời.
10- Thành trung 城中: người trong thành.
11- Kiến đắc 见得: bị bắt làm tù binh
12- Trủng mộ 冢墓: phần mộ.
13- Hàn tâm 寒心: sợ, lo lắng.
14- Thế khấp 涕泣: khóc.
15- Nộ tự thập bội 怒自十倍: ví phẫn nộ tăng gấp 10 lần lúc thường.

Dịch nghĩa
          Điền Đan mệnh lệnh cho dân chúng trong thành, trước khi ăn cơm phải tế tự tổ tiên trong sân, bầy chim tranh thức ăn bay lượn vòng trong thành. Người nước Yên từ xa nhìn thấy lấy làm kinh ngạc, Điền Đan lại cho người phao tin rằng: “Sẽ có Thần sư giáng lâm dạy ta.” Có một sĩ binh nói rằng: “Tôi có thể làm Thần sư được chăng?” nói xong liền quay người bỏ chạy. Điền Đan liền đứng dậy kéo anh ta lại, mời anh ta ngồi quay mặt về hướng đông, tôn làm Thần sư. Sĩ binh này nói rằng: “Tôi gạt ngài đó.” Điền Đan bảo rằng: “Anh không nên nói!” Thế là xem anh ta như là Thần sư. Từ đó, mỗi lần phát ra mệnh lệnh, nhất định nói là Thần sư chỉ bảo. Điền Đan lại sai người phao tin rằng: “Ta chỉ sợ người nước Yên cắt mũi tù binh nước Tề, khi tác chiến nếu để họ ở phía trước đội quân, như thế thì thành Tức Mặc coi như mất”. Người Yên nghe được mấy lời của Điền Đan, quả nhiên họ làm theo như thế. Người trong thành Tức Mặc thấy người bị bắt làm tù binh đều bị cắt mũi nên vô cùng giận dữ, họ càng kiên thủ thành trì, chỉ sợ bị bắt làm tù binh. Điền Đan lại sai người thi hành kế phản gián, nói rằng: “Ta sợ người nước Yên quật mồ tổ tiên ở ngoài thành, nếu quả thực như thế thì mọi người lo sợ.” Quân nước Yên trúng kế, đi quật phần mộ ngoài thành, thiêu đốt tử thi. Người nước Tề từ trên thành nhìn thấy, đều bi phẫn rơi nước mắt, muốn xuất chiến, nộ khí tăng lên gấp bội.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 26/3/2o19

Nguồn
TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
资治通鉴
Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

Chia sẻ bài viết

Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
back to top