Dịch thuật: Tô mạc già (Phạm Trọng Yêm)



苏幕遮
碧云天
黄叶地
秋色连波
波上寒烟翠
山映斜阳天接水
芳草无情
更在斜阳外
黯香魂
追旅思
夜夜除非
好梦留人睡
明月楼高休独倚
酒入愁肠
化作相思泪
                 (范仲淹)

TÔ MẠC GIÀ
Bích vân thiên
Hoàng diệp địa
Thu sắc liên ba
Ba thượng hàn yên thuý
Sơn ánh tà dương thiên tiếp thuỷ
Phương thảo vô tình
Cánh tại tà dương ngoại
Ám hương hồn
Truy lữ tứ
Dạ dạ trừ phi
Hảo mộng lưu nhân thuỵ
Minh nguyệt lâu cao hưu độc ỷ
Tửu nhập sầu trường
Hoá tác tương tư lệ
                                          (Phạm Trọng Yêm)

TÔ MẠC GIÀ
Trời mây biếc
Đất lá vàng
Sắc thu liền sóng nước
Khói lạnh toả trên sông
Núi đón tà dương trời nối nước
Cỏ thơm vô tình
Ngoài ánh tà dương
Chút hồn quê
Theo nỗi nhớ
Đêm đêm trăn trở
Giấc ngủ luôn tìm hương mộng
Trăng sáng lầu cao riêng một bóng
Rượu nhấp lòng sầu
Bỗng hoá lệ tương tư

Phạm Trọng Yêm 范仲淹 (989 – 1052): tự Hi Văn 希文. Lúc đầu ở đất Bân (nay là huyện Bân tỉnh Thiểm Tây), sau dời đến huyện Ngô ở Tô Châu 苏州 (nay thuộc Giang Tô). Ông đậu Tiến sĩ năm Đại Trung Tường Phù 大中祥符 thứ 8 (năm 1015). Làm quan tới chức Khu mật phó sứ, Tham tri chính sự, từng ra nhậm chức Tứ lộ Tuyên phủ sứ, Tri Bân châu ở Thiểm Tây. Trấn giữ biên giới nhiều năm, Tây Hạ gọi ông là “hung trung tự hữu sổ vạn giáp binh” 胸中自有数万甲兵 (trong lòng tự có mấy vạn giáp binh).
         Khi mất có tên thuỵ là Văn Chính 文正. Trứ tác có Phạm Văn Chính Công tập 范文正公集. Từ hiện tồn 5 bài, phong cách, đề tài đều không câu thúc, như Ngư gia ngạo 渔家傲 viết về cuộc sống nơi biên tái, mạnh mẽ,cứng cõi, trong sáng; Tô mạc già 苏幕遮, Ngự nhai hành 御街行 viết về nỗi nhớ biệt li, thâm trầm uyển chuyển, người đọc cảm thấy khoái chá. Hiện nay có tập Phạm Văn Chính Công Thi Dư 范文正公诗馀.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 24/12/2016

Nguồn
 TỐNG TỪ GIÁM THƯỞNG TỪ ĐIỂN
宋词鉴赏辞典
Biên soạn: nhiều tác giả
Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 2003