Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Dịch thuật: Diễn biến nghĩa cổ và nghĩa hiện nay của từ (kì 2)

Đăng lúc  22:55  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật

DIỄN BIẾN  NGHĨA CỔ VÀ NGHĨA HIỆN NAY CỦA TỪ
(kì 2)

2- THU HẸP NGHĨA CỦA TỪ
          “tử” , vốn chỉ em bé, cả con trai lẫn con gái. Trong Câu Tiễn diệt Ngô 勾践灭吴 có ghi:
          Đương thất giả tử, tam niên thích kì chính; chi tử tử, tam nguyệt thích kì chính, tất khốc khấp mai táng chi, như kì tử. Lệnh cô tử, quả phụ, tật chẩn, bần bệnh giả, nạp quan kì tử.
          当室者死, 三年释其政; 支子死, 三月释其政, 必哭泣埋葬之, 如其子. 令孤子, 寡妇, 疾疹, 贫病者, 纳官其子.
          (Đích trưởng tử chết thì miễn giảm 3 năm thuế khoá, con thứ chết thì miễn giảm 3 tháng thuế khoá, khi mai táng phải khóc lóc như con ruột của mình. Lại còn ra lệnh, cô nhi, quả phụ, người tật bệnh, nghèo khổ thì do triều đình xuất tiền nuôi dưỡng và dạy dỗ con cái của họ.)
          2 chữ “tử” đầu chỉ con trai, 2 chữ “tử” sau chỉ cả con trai lẫn con gái.
          Trong Lỗ Trọng Liên nghĩa bất đế Tần 鲁仲连义不帝秦:
Quỷ Hầu hữu tử nhi hảo, cố nhập chi vu Trụ, Trụ dĩ vi ác, hải Quỷ Hầu
鬼侯有子而好, 故入之于纣, 纣以为恶醢鬼侯.
(Quỷ Hầu có cô con gái xinh đẹp, nên dâng cho vua Trụ, vua Trụ chê xấu, bắt giết Quỷ Hầu)
Chữ “tử” ở đây chỉ con gái. Về sau nghĩa của từ thu hẹp chuyên chỉ con trai, như: tử nữ 子女, trưởng tử长子, độc sinh tử 独生子…; lại phái sinh ý nghĩa tôn xưng đối với đàn ông vào thời cổ, như Khổng Tử, Trang Tử, Hàn Phi Tử.

“thành” , vốn chỉ tường thành. Trong Trịnh Bá khắc Đoạn vu Yển 郑伯克段于鄢 có câu:
Đô thành quá bách trĩ, quốc chi hại dã.
都城过百雉, 国之害也
(Đô thành quá 100 trĩ là cái hại của nước)
          Dẫn đến nghĩa khu vực trong tường thành có người cư trú.
          Sử kí – Liêm Pha Lạn Tương Như liệt truyện 史记 - 廉颇蔺相如列传:
Tần Chiêu Vương văn chi, sử nhân di Triệu Vương thư, nguyện dĩ thập ngũ thành thỉnh dịch bích.
秦昭王闻之, 使人遗赵王书, 愿以十五城请易璧.
(Tần Chiêu Vương nghe được, sai người đem thư đến cho Triệu Vương, nguyện đem 15 thành đổi lấy viên ngọc)
Về sau phạm vi chỉ xưng thu hẹp lại, có thể chỉ một bộ phận của thành, như đông thành, tây thành. Hiện nay nghĩa của từ càng hẹp hơn, chỉ một kiến trúc nào đó trong thành, như ngu lạc thành 娱乐城, đồ thư thành 图书城, phục trang thành 服装城.

“kim” , vốn chỉ kim loại, vàng, bạc, đồng, thép đều trong đó. Trong Sử kí – Bình chuẩn thư 史记平準书 có câu:
Kim hữu tam đẳng: hoàng kim vi thượng, bạch kim vi trung, xích kim vi hạ.
金有三等: 黄金为上, 白金为中, 赤金为下
          (Kim có 3 hạng: hoàng kim là hạng đầu, bạch kim hạng giữa, xích kim hạng cuối)
          Về sau đối tượng được chỉ thu hẹp lại, chỉ chỉ vàng. Chỉ trong những từ  phức âm chỉ kim loại mới bảo lưu ý nghĩa gốc.
                                                                               (còn tiếp)

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 22/7/2015

Nguồn
CỔ HÁN NGỮ TỐC THÀNH ĐỘC BẢN
古汉语速成读本
Biên soạn: Lưu Khánh Nga 刘庆俄
Trung Hoa thư cục, 2005

Chia sẻ bài viết

Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
back to top