Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

Dịch thuật: Tử hậu hôn

Đăng lúc  17:03  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật

TỬ HẬU HÔN

          Tử hậu hôn 死后婚 còn gọi là “minh hôn” 冥婚, chỉ hôn lễ được cử hành cho người đã mất. Con người sau khi mất đi không thể sống lại được, thế thì sao lại còn phải kết hôn? Tiền đề sản sinh ra hình thức hôn nhân này là quan niệm “linh hồn bất tử”. Theo người xưa, bất kì người nào và vật thể nào cũng đều có linh hồn, con người sau khi mất, âm hồn vẫn tiếp tục sống ở âm gian. Do đó tổ chức hôn lễ cho hai người đã mất để linh hồn của họ kết hợp với nhau, sống cuộc sống vợ chồng ở âm gian, là sự cân bằng tâm linh và sự hi vọng của người sống.
          Nhìn từ tư liệu sách vở, thời Tam Quốc đã xuất hiện minh hôn. Người con nhỏ của Tào Tháo 曹操 là Tào Xung 曹冲 chết yểu, Tào Tháo rất đau buồn, đã hợp táng con gái nhà họ Chân cho Tào Xung. Thời Đường Trung Tông,
(Hoàng hậu) Vi thứ nhân (*) hựu vị vong đệ tặng Nhữ Nam Vương Tuân, dữ Chí Trung nữ vi minh hôn hợp táng. (1)
韦庶人 (*) 为亡弟赠汝南王询, 与至忠女为冥婚合葬. (1)
(Hoàng hậu Vi thứ nhân đã minh hôn hợp táng người em trai Nhữ Nam Vương Tuân đã mất với con gái của Chí Trung)
Đến thời Tống, phong khí tổ chức hôn sự cho người đã mất càng thịnh. Đời Nguyên, tục minh hôn lại tăng không giảm. Đến thời Minh Thanh, trong dân gian vẫn còn lưu hành tập tục hôn nhân này. Điều khiến mọi người kinh ngạc là trong xã hội hiện nay, tập tục hôn nhân này vẫn chưa tuyệt tích. Năm 1982, tại một xưởng nông cơ ở Bắc Kinh, người con của một đôi vợ chồng già qua đời, đôi vợ chồng già đã dùng quan tài đưa di thể người con về quê nhà Sơn Đông xây mộ an táng. Sau đó tại quê nhà, tìm một người con gái đã mất gã làm vợ cho người con đó, mời người tổ chức hôn sự cho đôi nam nữ đã mất này, đem họ hợp táng chung một một (2).
Tử hậu hôn là một hủ tục hiện nay vẫn tồn tại, đương nhiên nó có nguồn gốc văn hoá lịch sử sâu xa. Bậc làm cha mẹ tìm người bạn đời cho người con đã mất trước khi lập gia đình, từ phương diện tâm lí mà nói, là đã làm hết trách nhiệm của mình, cầu mong được sự cân bằng tâm lí, nhưng từ phương diện pháp luật mà nói quả là việc hoang đường.

Chú của nguyên tác
(1)- Cựu Đường thư – Tiêu Chí Trung truyện 旧唐书 - 萧至忠传
(2)- “Bắc Kinh nhật báo” 北京日报, ngày 19 tháng 5 năm 1982.

Chú của người dịch
(*)- Vi thứ nhân 韦庶人: tức hoàng hậu của Đường Trung Tông Lí Hiển 李显. Năm Thần Long 神龙 thứ 1 (năm 705), Trung Tông lên ngôi trở lại, Vi thị câu kết với Võ Tam Tư 武三思 thao túng triều chính, người anh họ của Vi thị là Vi Ôn 韦温 nắm giữ thực quyền, hình thành tập đoàn chuyên chính Võ, Vi đứng đầu là Vi thị, để con gái là công chúa An Lạc 安乐 tự do mua quan bán tước, lại ra sức xây dựng tự miếu đạo quán, xa xỉ vô độ.
          Năm Cảnh Long 景龙 thứ 4 (năm 710), Lí Hiển chết đột ngột, Vi thị lập Ôn Vương Lí Trọng Mậu 温王李重茂 làm hoàng đế, lâm triều xưng chế. Chẳng bao lâu, Lí Long Cơ 李隆基 phát động chính biến, đưa phụ thân là Tương Vương Lí Đán 相王李旦 đăng cơ. Vi thị bị giết trong cung, đồng thời bị truy biếm là thứ nhân, gọi là Vi thứ nhân.
          Nguồn http://baike.baidu.com/view/1059782

          Vi hoàng hậu từng cưới người con gái đã mất của Trung thư lệnh Tiêu Chí Trung 萧至忠  cho người em đã mất là Nhữ Nam Vương Vi Tuân 韦询 rồi cho hợp táng. Về sau Lí Long Cơ phát động chính biến Huyền Vũ môn 玄武门, giết Vi hoàng hậu cùng bè đảng Vi, Vũ. Tiêu Chí Trung sợ bị liên luỵ nên đã cho quật mộ Vi Tuân, đưa linh cửu con gái mình ra khỏi mộ để tỏ rõ hai người đã “li hôn”.
          Nguồn http://www.baike.com/wiki/

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 13/10/2014

Nguyên tác Trung văn
TỬ HẬU HÔN
死后婚
Trong quyển
BÁT TỰ HÔN NHÂN HỌC
八字婚姻学
Tác giả: Vương Trạch Thụ 王泽树
Thanh Hải nhân dân xuất bản xã, 2005.

Chia sẻ bài viết

Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
back to top