Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Dịch thuật: Đơn vị cơ bản của xã hội - Bàn về chữ "gia"

Đăng lúc  16:53  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật


ĐƠN VỊ CƠ BẢN CỦA XÃ HỘI
BÀN VỀ CHỮ “GIA”

          Chữ “gia” là nhà gồm bộ “miên” ở trên, chữ “thỉ” ở dưới. “Thỉ” là heo, nhà tại sao là “thỉ” mà không phải là “nhân”? Tra trong Thuyết văn 说文, Hứa Thận 许慎 nói rằng:
Gia tùng ‘miên’, ‘gia’ tỉnh thanh (1)
家从’,‘省声
(Chữ ‘gia” gồm bộ ‘miên’ và chữ ‘gia” viết tỉnh lược lấy thanh)
          Ở đây xem chữ “gia” là loại hình thanh, ’ là hình phù, ‘’ là thanh phù, nhưng chữ  đã tỉnh lược thành chữ . Đoàn Ngọc Tài 段玉裁 không đồng ý với cách nói của Hứa Thận, cho rằng “gia tỉnh thanh”, tại sao không trực tiếp dùng chữ để làm thanh phù, mà lại phải đi vòng như thế (2)? Họ Đoàn đã nêu lên một vấn đề rất hay. Sau Hứa Thận, có người hoài nghi chữ ở dưới chữ là do chữ (hợi) biến thành (3), cũng có người cho nửa phần dưới của chữ là chữ (chúng) (4). Kết luận của Đoàn Ngọc Tài vẫn là khả thủ, ông cho rằng nghĩa gốc của chữ “gia” là nơi ở của heo, sau mượn dùng để chỉ chỗ ở của người. Ông còn nói “nghĩa của chữ chuyển đổi đa phần như thế”. Chúng ta thử phân tích một tí, heo là con vật mà tiên dân thường nuôi, vả lại heo sinh sản rất nhiều. Chữ “gia” có chữ “thỉ” , có nội dung xã hội đặc định, quan hệ mật thiết với sản xuất nông nghiệp. Nhìn từ tình hình khảo cổ, từ di chỉ ở thôn Bán Pha 半坡 cho đến di chỉ ở Hà Mẫu Độ 河姆度, đều có khảo chứng về việc nuôi heo. Điều này nói rõ nuôi heo hoặc thuần dưỡng heo rừng đã bắt đầu thừ thời đại đồ đá mới. Chữ  lấy chữ làm kết cấu, cho thấy kinh tế gia đình có quan hệ mật thiết với chăn nuôi.
          Có nhiều giải thích đối với chữ : trong Nhĩ nhã 尔雅 có câu:
Kì nội vi chi gia
其内为之家
(Bên trong là gia)
          Lí Tuần 李巡 chú rằng:
Môn dĩ nội dã
门以内也
(Từ cửa vào trong)
          Trong Bạch Hổ thông 白虎通 ghi rằng:
Giá giả, gia dã. Phụ nhân ngoại thành, dĩ xuất thích nhân vi gia (*).
嫁者,家也.妇人外成,以出适人为家
(Giá là gia. Người con gái xuất giá đến nhà người là gia)
          “Gia” thường được dùng để chỉ chuyên gia học phái, có tính chất từ vĩ, Nho gia, Mặc gia, Pháp gia. Còn có nông gia, điền gia, sử gia, giáo dục gia. Nhưng những năm gần đây, chữ “gia” bị lạm dụng, động một tí là xưng “gia”, như chỉ cần anh là diễn viên thì gọi là “nghệ thuật gia”, những người sành ăn thì gọi là “mĩ thực gia”, làm lãnh đạo thường được người khác gọi là “xí nghiệp gia”, “giáo dục gia” …
          Chữ “gia” thường dùng ở địa danh, như “Lí gia trang” 李家庄, “Trương gia trang” 张家庄. Ở phương bắc thường nói “gia” là “các” , như “Đường các loan” 唐各湾, “Chu các trang” 周各庄. “Các” là biến âm của “gia” (5).
          “Gia” cũng là từ đa âm (**), ngoài đọc là “gia” (jia) ra, còn đọc là “cô” (gu). Con gái của Ban Bưu 班彪, em của Ban Cố 班固 là Ban Chiêu 班昭 được mọi người gọi là “Tào đại cô” 曹大家 (gu). Chữ sao lại đọc là “cô” (gu)? Trong Sử kí tạp thuyết trung 史记杂说中 có ghi:
Chủ thượng hữu Đại cô chi hiệu
主上有大家之号
Ý nói Hoàng thượng có phong danh hiệu Đại cô. Trong Độc đoán 独断 nói rõ hơn:
Thiên tử thân biên cận thị, xưng chi vi Đại cô
天子身边近侍,称之为大家
(Người hầu cận bên cạnh thiên tử gọi là Đại cô)
          Do bởi chồng của Ban Chiêu họ Tào (Tào Thế Thúc 曹世叔) (***) nên mọi người gọi bà là Tào đại cô.

CHÚ CỦA NGUYÊN TÁC
(1)- Thuyết văn 说文 thất thiên hạ, Ma bộ 麻部.
(2)- Thuyết văn giải tự chú 说文解字注, trang 337, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã.
(3)- Quách Tại Di 郭在贻 : Huấn hỗ học tùng cảo 训诂学丛稿, trang 401, có câu:
Thỉ nãi cổ văn hợi tự giả
豕乃古文亥字者
(Chữ “thỉ” là chữ “hợi” cổ văn)
(4)- Phương Dĩ Trí toàn thư – Thông nhã 方以智全书 - 通雅, trang 143, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã.
(5)- Trần Kiến Dân 陈建民: Ngữ ngôn văn hoá xã hội tân thám 语言文化社会新探, trang 58.
CHÚ CỦA NGƯỜI DỊCH
(*)- Trong nguyên tác, câu này như sau:
Giá giả, gia dã. Phụ nhân xử thành dĩ xuất, thích nhân vi gia (*).
嫁者,家也.妇人处成以出,适人为家
     “ngoại thành” 外成 có nghĩa là con gái xuất giá, có lẽ nguyên tác in nhầm là “xử thành” 处成. Tôi theo http://www.guoxue123.com/zhibu sửa lại như trên.
(**)- Trong Khang Hi tự điển , mục chữ “gia” cũng có ghi rằng:
          - Tập vận 集韻 phiên thiết là CỔ HỒ 古胡,âm CÔ (bính âm là "gu" thanh 1)
          Hựu dữ cô đồng. Đại cô, nữ chi tôn xưng. Hán Tào Thế Thúc chi thê Ban Chiêu xưng đại cô, tức Siêu muội.
          又与姑同.大家,女之尊稱.漢曹世叔之妻班昭稱大家,即超妹.
(Và có nghĩa giống với chữ (cô). “Đại cô” 大家 là từ tôn xưng người con gái. Ban Chiêu 班昭 đời Hán, vợ của Tào Thế Thúc 曹世叔 được gọi là Đại cô, tức em gái của Ban Siêu)
( Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003, trang 224)
(***)- Trong nguyên tác in nhầm là Tào Thế Quyền 曹世权.

                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 22/4/2013

Nguyên tác Trung văn
XÃ HỘI ĐÍCH CƠ BẢN ĐƠN VỊ
ĐÀM “GIA”
社会的基本单位
Trong quyển
HÁN TỰ THẬP THÚ
汉字拾趣
Tác giả: Kỉ Đức Dụ 纪德裕
Phúc Đán đại học xuất bản xã, 1998.

Chia sẻ bài viết

Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
back to top