早梅
殘冬草樹當酣睡
到處群芳未肯開
乍見蠟梅黄數朶
方知清客獨先來
TẢO MAI
Tàn đông thảo thụ đương hàm thuỵ
Đáo xứ quần phương vị khẳng khai
Sạ kiến lạp mai hoàng sổ đoá
Phương tri thanh khách độc tiên lai
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 10/10/2026
Tàn
đông 殘冬: cuối đông, lúc mùa đông sắp qua, cũng là biệt xưng
của tháng 12 âm lịch.
Quần
phương 群芳: các loài hoa cỏ thơm, ở đây chỉ trăm hoa.
Thanh
khách 清客: Biệt xưng của hoa mai. Nhân cách hoá
hoa mai, hoa nở trong mùa đông lạnh, cho nên có biệt xưng là “thanh khách”.
Diêu Khoan 姚宽đời Tống trong “Tây khê tùng ngữ – Thập khách” 西溪丛语 - 十客có câu:
梅花为清客
Mai hoa vi thanh khách
(Hoa mai gọi là thanh khách)
Độc
tiên lai 獨先來: mượn ý từ câu thơ của Dương Duy Trinh 楊維楨đời Nguyên trong bài “Đạo mai chi khí tiết” 道梅之氣節:
Vạn hoa cảm hướng tuyết trung xuất
Nhất thụ độc tiên thiên hạ xuân
萬花敢向雪中出
一樹獨先天下春
(Muôn hoa nào dám nở hoa trong tuyết
Chỉ có hoa mai là nở trước nhất báo hiệu mùa xuân)
Ý
nói hoa mai không sợ tuyết lạnh, trong số muôn hoa, hoa mai nở hoa trước nhất,
dự báo mùa xuân sắp đến, nhân đó hoa mai được dân gian xem là điềm cát tường
truyền xuân báo hỉ.
Và Vương An Thạch 王安石đời Tống trong bài “Mai hoa” 梅花cũng đã viết:
墙角数枝梅
凌寒独自开
遥知不是雪
为有暗香来
Tường
giác sổ chi mai
Lăng
hàn độc tự khai
Dao tri
bất thị tuyết
Vi hữu
ám hương lai
(Mấy cây mai nơi góc tường
Vươn lên trong cái rét, riêng
mình nở hoa
Nhìn xa xa thấy màu trắng của
hoa tinh khiết biết không phải là tuyết
Bởi vì từng đợt từng đợt hương ngầm của hoa bay đến)
Tạm dịch
MAI SỚM
Đã cuối đông các loài cây cỏ
còn đương ngủ say
Khắp nơi trăm hoa hãy còn chưa
chịu nở
Chợt thấy mai vàng đã bung mấy
đoá
Mới biết “thanh khách” đến trước
báo tin xuân
