燕歸梁
春去春來燕未歸
柳條綠新絲
爐香筆硯共相隨
夕軒外日深移
芸窗舊識
風敲翠竹
堂上待佳期
流光何處不分離
事難改柳依依
YẾN QUY LƯƠNG
Xuân
khứ xuân lai yến vị quy
Liễu
điều lục tân ti
Lô
hương bút nghiễn cộng tương tuỳ
Tịch hiên ngoại, nhật thâm di
Vân
song cựu thức
Phong
xao thuý trúc
Đường
thượng đãi giai kì
Lưu
quang hà xứ bất phân li
Sự nan cải, liễu y y
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 15/8/2026
Vân
song 芸窗: nhã
xưng “thư phòng”, “thư trai”, cũng phiếm chỉ nơi đọc sách.
“Vân” 芸 là một loại cỏ thơm, người xưa cho rằng loại cỏ này
có tác dụng xua đuổi được loại côn trùng cắn phá sách, nên thường đặt cỏ vân
trong sách hoặc ở góc phòng. Nhân đó văn nhân thời cổ gọi thư phòng, nơi đọc
sách là “vân song” 芸窗cũng
viết là 芸牕.
Cựu
thức 舊識: bạn
cũ, người quen cũ.
Lưu
quang 流光: thời
gian, năm tháng.
Liễu
y y 柳依依: cành
liễu mềm đong đưa theo gió. Điển xuất từ “Thi – Tiểu nhã – Thái vi” 詩 - 小雅 - 采薇:
昔我往矣
楊柳依依
Tích
ngã vãng hĩ
Dương
liễu y y
(Ngày
trước lúc ta ra đi
Cành dương liễu mềm đong đưa theo gió)
Tạm dịch
Xuân
đi, rồi xuân lại đến nhưng chim én vẫn chưa về
Liễu
đã tươi xanh những cành non mới
Mùi
hương trầm và bút nghiên cùng theo bên cạnh
Ngoài hiên chiều xuống, mặt trời đã lặn sâu
Thư
phòng là bạn cũ
Gió
khua khóm trúc xanh
Nơi
gian nhà trên đợi lúc gặp nhau
Thời
gian trôi qua, nơi nào mà không có cảnh li biệt
Sự việc
khó mà đổi thay, cành liễu mềm theo gió đong đưa.
