彭澤本風流雅逸悠悠懷徑菊
濂溪眞氣度威嚴蕩蕩愛池蓮
Bành Trạch bổn phong lưu, nhã dật du du hoài kính
cúc
Liêm Khê chân khí độ, uy nghiêm đãng đãng ái trì liên
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 22/8/2026
Bành Trạch 彭澤: chỉ
Đào Uyên Minh 陶淵明 (365
– 427), sau khi về với nhà Lưu Tống (thuộc Nam triều) mới đổi tên là Tiềm 灊, thi nhân thời Đông Tấn, tự Nguyên Lượng 元亮, hiệu Ngũ Liễu tiên sinh 五柳先生, tên
thuỵ là Tĩnh Tiết 靖節, người Sài Tang 柴桑 Tầm Dương 潯陽 (nay là phía tây nam Cửu Giang 九江 Giang Tây 江西)
Theo “Tống sử” 宋史, lúc Đào Uyên Minh làm
Bành Trạch lệnh, một ngày nọ trên quận phái viên đốc bưu đến thị sát công việc,
huyện lại báo với Đào Uyên Minh nên mặc áo đội mũ chỉnh tề để nghinh đón. Đào
Uyên Minh cảm thán rằng:
我不能为五斗米折腰向乡里小人!
Ngã bất năng vị ngũ đẩu mễ chiết yêu hướng hương lí tiểu nhân!
(Ta không thể
vì 5 đấu gạo mà khom lưng với bọn tiểu nhân của làng.)
Ngay ngày hôm
đó ông trả ấn từ quan, làm quan chỉ có 80 ngày.
Trong “Quy khứ lai hề từ” 歸去來兮辭, Đào Uyên Minh có viết:
Tam kính tựu
hoang, tùng cúc do tồn.
三徑就荒, 松菊蕕存
(Ba lối đi nhỏ trong sân đã hoang vu, nhưng cây
tùng và hoa cúc nơi đó vẫn mọc tươi tốt)
“Tam kính tựu hoang” 三径就荒, nói rõ ông thanh bần không
giàu có, tức ý nói làm quan không tham chiếm tiện nghi của người khác, không lợi
dụng người có quyền thế để kiếm lợi cho mình.
“Tùng
cúc do tồn” 松菊犹存nói
rõ tuy ông không giàu có, nhưng phẩm đức và sự tu dưỡng của ông luôn được giữ
gìn, giống như ba lối đi nhỏ đã hoang vu, nhưng tùng và cúc ông trồng vẫn luôn
tươi tốt.
Và trong
bài “Ẩm tửu” 飲酒 (kì ngũ) ông cũng đã viết:
Thái cúc đông li hạ
Du nhiên kiến nam sơn
採菊東籬下
悠然見南山
(Hái hoa cúc bên giậu đông
Thư thái thấy núi nam)
Nhã dật 雅逸: (khí chất) phong nhã, thoát tục
Du du 悠悠: an nhàn tự tại.
Kính cúc 徑菊: hoa cúc nơi lối đi nhỏ.
Liêm Khê 濂溪: chỉ Chu Đôn Di 周敦颐 (1017 – 1703), lí học gia đời Tống, tự Mậu Thúc 茂叔, vốn tên là Đôn Thực 敦实, vì tránh tên huý của Anh Tông 英宗nên đã đổi tên, người huyện
Doanh Đạo 营道,
Đạo Châu 道州
(nay thuộc huyện Đạo 道Hồ Nam 湖南). Nhân vì cư trú dưới Liên Hoa Phong 莲花峰 tại Lư Sơn 庐山, nơi đây có suối, nên đặt tên
cho thư phòng của mình là “Liêm Khê thư đường” 濂溪书堂, người đời sau nhân đó gọi ông
là “Liêm Khê tiên sinh” 濂溪先生. Năm 1072, ông lập Liêm Khê thư viện, tác phẩm tản văn nổi
tiếng “Ái liên thuyết” 愛蓮說của ông được viết vào khoảng thời gian này, thể hiện sự tán
thưởng của ông đối với hoa sen.
Trong “Tống
sử” 宋史xếp
Chu Đôn Di vị trí đầu của Đạo học, Chu Hi 朱熹 xưng ông là “Lí học khai sơn” 理学开山, cùng với Thiệu Ung 邵雍, Trương Tái 张载, Trình Hạo 程颢, Trình Di 程颐được xưng là “Bắc Tống ngũ tử” 北宋五子.
Khí độ 氣度: khí khái và độ lượng.
Đãng đãng 蕩蕩: tâm khoáng đạt, quang minh lỗi
lạc, không lo không sợ.
Trong
“Luận ngữ - Thuật nhi” 論語 - 述而có câu:
Quân tử thản đãng đãng, tiểu
nhân trường thích thích.
君子坦蕩蕩, 小人長戚戚
(Quân
tử trong lòng luôn khoáng đạt quang minh, còn tiểu nhân thì tâm địa chật hẹp
luôn phiền não)
Trì liên 池蓮: sen trong ao.

