BÁ LĂNG CHIẾT LIỄU
霸陵折柳
(Bẻ liễu Bá Lăng)
Xuất xứ: “Tam phụ hoàng đồ” 三輔皇圖.
霸陵折柳 (Bá Lăng chiết liễu) cũng có thể viết là 灞陵折柳 (Bá Lăng chiết liễu),
hoặc 灞橋折柳 (Bá kiều chiết liễu).
Ba câu thành ngữ này đều cùng một nguồn gốc.
Thời cổ, người đời Hán tiễn khách ở trên cầu Bá Lăng 霸陵, họ bẻ một cành liễu để
bày tỏ sự li biệt, người đời sau đã dẫn đến nghĩa tống biệt.
Mở bản đồ Tây An 西安Thiểm Tây 陝西, ra khỏi cổng phía bắc
thành phố Tây An 西安. Theo đường xe lửa Lũng
Hải 隴澥đi về phía đông, khoảng
17 km sẽ thấy dòng Bá thuỷ 霸水vốn bắt nguồn từ phía đông Lam Điền 藍田. Dòng sông quanh co uốn khúc, trước sau thu nhận
nước của Lam thuỷ 藍水, Võng thuỷ 輞水, Sản thuỷ 滻水chảy về hướng tây bắc rồi
đổ vào Vị hà 渭河.
Bá thuỷ 霸水từ xưa có tên là Tư thuỷ 滋水, vào một năm nọ, để tuyên dương công lao to lớn “xưng bá tây nhung” 稱霸西戎của mình, Tần Mục Công 秦穆公 đã đổi tên thành “Bá
thuỷ” 霸水. Đến thời Tuỳ lại dùng
trở lại tên “Tư thuỷ” 滋水, từ thời Đường trở về sau, gọi là “Bá thuỷ” 灞水, cây cầu bắc ngang qua Bá thuỷ gọi là “Bá kiều”
灞橋danh truyền thiên cổ.
Thân cầu dùng toàn đá trắng để xây, dài khoảng 80 trượng, rộng khoảng 4 trượng,
nhìn từ xa giống như chiếc cầu vồng từ trên không bay xuống. Hai đầu cầu cùng với
bờ Bá thuỷ trồng hai hàng liễu rủ, toả bóng mát ven đường, cảnh sắc u mĩ. Ở mỗi
đầu cầu còn lập “bài phường” 牌坊 đá xanh, tấm hoành ở trên khắc hai chữ “Bá thuỷ”
灞水rất lớn, ngoài ra còn có
các câu “Tây thông Quan Lũng” 西通關隴, “Đông tiếp Hào Hàm” 東接崤函.
Theo ghi chép, Bá kiều có lịch sử rất lâu đời. Trong “Thuỷ
kinh chú” 水經注có câu:
Bá thuỷ hữu kiều, vị
chi Bá kiều.
霸水有橋, 謂之霸橋
(Bá thuỷ có cầu, gọi là
Bá kiều)
Chứng minh thời Nguỵ Tấn
trở về trước cầu đã được xây dựng, nhưng lúc ban đầu bằng gỗ, cầu bằng đá là xây
ở đời Tuỳ, cho nên trong sách “Ung lục” 雍錄 có chú:
Tuỳ thời canh dĩ thạch
vi chi, Đường nhân tống biệt đa ư thử.
隋時更以石爲之, 唐人送別多於此.
(Thời Tuỳ đổi xây bằng đá,
người đời Đường đa phần tiễn biệt tại đây)
Còn như bẻ liễu ở Bá kiều, nguồn gốc lại cực xưa, như trong
“Tam phụ hoàng đồ” 三輔皇圖đã có ghi:
Bá kiều tại Trường An đông, khoá Bá thuỷ vi kiều, Hán nhân
tống khách chí thử kiều, chiết liễu tặng biệt.
灞橋在長安東, 跨灞水爲橋, 漢人送客至此橋, 折柳贈別.
(Bá kiều ở phía đông Trường An, bắc ngang qua Bá thuỷ làm cầu,
người đời Hán tiến khách đến cầu này, bẻ liễu tặng lúc li biệt).
Đây chính là xuất xứ của thành ngữ “Bá lăng chiết liễu” 霸陵折柳.
Cũng căn cứ vào khảo chứng, nguyên lai vào thời cổ, phàm lúc
đi xa, người ta thường ngồi xe ngựa hoặc cưỡi ngựa ra khỏi phía đông của Trường
An, đến Bá kiều, tại nơi đây mọi người lưu luyến nói lời chia tay, điều này cũng
giống như tại trường đình ở các nơi tiễn biệt. Cho nên trong “Khai Nguyên di
sự” 開元遺事 có chép:
Trường An đông Bá Lăng hữu kiều, tống nghinh lai khứ, chí
thử ảm nhiên, cố nhân hô vi “Toả hồn kiều”.
長安東霸陵有橋, 送迎來去, 至此黯然, 故人呼爲鎖魂橋.
(Bá Lăng phía đông Trường An có cầu, khi tiễn đưa đón tiếp,
đến nơi đây u buồn, cho nên người ta gọi là “Toả hồn kiều”.)
Thời cổ giao thông không tiện lợi, thân bằng quyến thuộc một
khi chia tay, khó hẹn ngày gặp lại, cho nên từ xưa “thương tình đa li biệt” 傷情多離別. Vào lúc đó, người mà
tình cảm phong phú dồi dào nhất cũng trở nên yếu mềm. Nhưng tiễn anh ngàn dặm,
cuối cùng cũng phải chia tay. Người đi xa và người đưa tiễn cùng đến Bá kiều,
người đi xa dặn dò rồi lại dặn dò lên ngựa ra đi, còn người ở lại tình cảm lưu
luyến khó rời, nên thuận tay bẻ một cành liễu tặng để người đi xa lấy đó thay
roi ngựa. Trên đường đi, vung cành liễu, nhìn cành liễu, luôn tưởng nhớ, nhìn vật
thấy người, hai tấm lòng gắn bó nhau. Tình cảm chân thành vĩnh viến khắc ghi
trong lòng không bao giờ quên. Như Vương Ngư Dương 王漁洋có viết:
Bá kiều lưỡng ngạn thiên
điều liễu,
Tống tận đông tây độ
thuỷ nhân
灞橋兩岸千條柳
送盡東西渡水人
(Ngàn cành liễu hai bên
bờ Bá kiều
Đưa tiễn biết bao người
qua sông đi về đông về tây)
Linh cảm đó từ nỗi buồn “Bá kiều chiết liễu”霸橋折柳 mà ra.
Thành ngữ “Bá Lăng chiết liễu” 霸陵折柳, ngày nay dùng rất phổ biến. Tại phi trường, sân ga, bến tàu đưa tiễn, đều có thể nói “Bá Lăng chiết liễu”, bời vì nghĩa gốc của thành ngữ này mang ý nghĩa tiễn biệt.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 10/7/2026
Nguồn
MỖI NHẬT NHẤT TỪ
每日一辭
Biên soạn: Lâm Lê 林藜
Hoa Thị xuất bản
xã ấn hành
Trung Hoa Dân Quốc,
80 niên (1991)
