Dịch thuật: Tây Hán (kì 2)

 

TÂY HÁN

(Năm 202 trước công nguyên – năm 9)

(kì 2)

Năm 167 trước công nguyên – Hán Văn Đế năm thứ 13

          Tháng 5, phế bỏ “nhục hình” 肉刑, thay băng “si hình” 笞刑 (đánh roi).

          Tháng 6, miễn tô thuế, thực hành chính sách “khinh dao bạc phú” 轻徭薄赋(nhẹ dao dịch, giảm thuế khoá)

Năm 157 trước công nguyên – Hán Văn Đế Hậu Nguyên 后元năm thứ 7

          Tháng 6, Hán Văn Đế giá băng. Hoàng thái tử Khải kế vị, Lưu Khải 刘启 tức Hiếu Cảnh Đế 孝景帝.

Năm 156 trước công nguyên – Hán Cảnh Đế nguyên niên

          Tháng 5, khôi phục thu một nửa điền tô của bách tính, thay đổi tính thuế từ 1/15 sản lượng đầu đời Hán làm 1/30 sản lượng, định chế thực hành đến cuối đời Hán.

 

Năm 154 trước công nguyên – Hán Cảnh Đế năm thứ 3

          Tháng Giêng, Ngô Sở 7 chư hầu vương khởi binh làm phản, sử xưng “Ngô Sở thất quốc chi loạn” 吴楚七国之乱. Chẳng bao lâu bị dẹp yên. 

Năm 141 trước công nguyên – Hán Cảnh Đế Hậu Nguyên 后元năm thứ 3

          Tháng Giêng, Hán Cảnh Đế giá băng. Hoàng thái tử Lưu Triệt 刘彻 (năm 156 – năm 87 trước công nguyên) kế vị, đó là Hán Vũ Đế 汉武帝. Thời kì thống trị Hán Văn Đế 汉文帝và Hán Cảnh Đế 汉景帝, đề xướng “khinh dao bạc phú, dữ dân hưu tức” 轻徭薄赋与民休息, kinh tế xã hội tiếp tục phát triển, hiện ra cục diện thịnh thế, sử xưng “Văn Cảnh chi trị” 文景之治.

Năm 140 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Kiến Nguyên 建元nguyên niên

          Đổng Trọng Thư 董仲舒tham gia “đối sách”, thỉnh cầu phế bỏ hình danh, đề xướng Nho học.

Năm 234 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Quang 元光nguyên niên

          Ban đậu lệnh cho quận quốc cử Hiếu , Liêm mỗi loại 1 người, xác lập chế độ sát cử.

Năm 133 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Quang nhị niên

          Tháng 6, Hán Vũ Đế nhậm mệnh Hàn An Quốc 韩安国làm Hộ quân tướng quân, hộ vệ nhóm Lí Quảng 李广4 vị tướng quân lãnh binh, xuất động tướng sĩ tổng cộng được hơn 30 vạn, dụ đánh Hung Nô, nhưng chưa thành.

Năm 130 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Quang năm thứ 5

          Tháng Giêng, Hán Vũ Đế phái Đường Mông 唐蒙 đi sứ nước Dạ Lang 夜郎, thiết lập quận Kiền Vi 犍为 (nay là huyện Kiền Vi 犍为thành phố Lạc Sơn 乐山 Tứ Xuyên 四川); Hán phái nhóm Tư Mã Tương Như 司马相如đi sứ các nơi như Cung , Tạc , Tư Du 斯楡, thiết lập hơn 10 huyện.

Năm 127 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Sóc 元朔năm thứ 2

          Mùa xuân, Hung Nô tiến vào Thượng Cốc 上谷, Ngư Dương 渔阳. Hán Vũ Đế phái Vệ Thanh 卫青đánh lui quân địch, đuổi Hung Nô Bạch Dương Vương 白羊王và Lâu Phiền Vương 楼烦王, đoạt lấy đất Hà Nam 河南đồng thời thiết lập quận Sóc Phương 朔方. Hán Vũ Đế còn thu nạp kế sách của Chủ Phụ Yển 主父偃, bắt đầu ban hành “Thôi ân lệnh” 推恩令.

Năm 124 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Sóc năm thứ 5

          Mùa Xuân, Hung Nô Hữu Hiền Vương nhiều lầm quấy nhiễu phương bắc. Hán Vũ Đế phái Vệ Thanh lãnh hơn 10 vạn tinh binh đánh lui quân địch, giành được thắng lợi.

Năm 121 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Thú 元狩năm thứ 2

          Tháng 3, Phiêu kị tướng quân Hoắc Khứ Bệnh 霍去病thống lĩnh hơn 1 vạn sĩ binh đánh lui Hung Nô.

          Mùa hạ, Hoắc Khứ Bệnh đem hơn 3 vạn kị binh một lần nữa đánh lui quân địch, chiếm cứ bộ Hung Nô khu vực Hà Tây 河西 (nay là Tẩu Lang 走廊 Hà Tây 河西và lưu vực Niết thuỷ 涅水).

          Mùa thu, Hung Nô Hồn Da Vương 浑邪王giết chết Hưu Đố Vương 休屠王, đem bộ thuộc hơn 4 vạn người đầu hàng triều Hán. Hán thất đem Hung Nô đã đầu hàng dời đi an trí trong 5 thuộc quốc, đồng thời phái Đô uý đến giám hộ các thuộc quốc.

Năm 119 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Thú năm thứ 4

          Mùa xuân, Vệ Thanh 卫青, Hoắc Khứ Bệnh 霍去病mỗi người thống lĩnh 5 vạn tinh binh chía đường đánh Hung Nô. Hoắc Khứ Bệnh đuổi địch hơn 2 ngàn dặm, đoạt hơn 7 vạn thủ cấp. Sau khi đại thắng, Hoắc Khứ Bệnh lên Lang Cư sơn 狼居山, dựng đàn tế trời. Từ đó, Hung Nô dời sâu về mạc bắc, mạc nam vô chủ.

          Cùng năm đó, Hán Vũ Đế đặt diêm quan, thiết quan, thực thi chính sách “Diêm thiết quản doanh” 盐铁管营 (quản lí kinh doanh muối và sắt).

Năm 118 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Thú năm thứ 5

          Hán Vũ Đế thực thi cải cách tệ chất, bỏ tiền “tam thù” 三铢, đổi đúc tiền “ngũ thù” 五铢.

Năm 115 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Đỉnh 元鼎năm thứ 2

          Trương Khiên 张骞 đi sứ Hung Nô trở về, đường giữa trung nguyên và Tây vực được thông, dần hình thành con đường tơ lụa.

Năm 114 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Đỉnh năm thứ 3

          Hán Vũ Đế hạ đạt “Cáo mân lệnh” 告缗令, do Dương Khả 杨可chủ trì sự việc.

Năm 113 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Đỉnh năm thứ 4

          Hán Vũ Đế phế bỏ việc đúc tiền ở quận quốc, đổi tiền “ngũ thù” 五铢, cũng gọi là “tam quan tiền” 三官钱. Tiền ngũ thù được xem là tiền đúc chủ yếu thời Tây Hán, thông hành đến mấy trăm năm.

Năm 112 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Đỉnh năm thứ 5

          Tháng 4, Hán Vũ Đế hạ lệnh xuất binh hơn 10 vạn người, công đánh Nam Việt 南越.

Năm 111 trước công nguyên – Hán Vũ Đế Nguyên Đỉnh năm thứ 6

          Hán thất bình định đất Nam Việt 南越, đặt 9 quận là Nam Hải 南海, Thương Ngô 苍梧, Uất Lâm 郁林, Hợp Phố 合浦, Giao Chỉ 交趾, Cửu Chân 九真, Nhật Nam 日南, Châu Nhai 珠崖, Đam Nhĩ 儋耳tiến hành thống trị. Ngoài ra, để tăng cường phòng hộ thành Trường An 长安, đã thiết lập 7 hiệu uý là Đồn kị 屯骑, Bộ binh 步兵, Việt kị 越骑, Trường thuỷ 长水, Hồ kị 胡骑, Xạ thanh 射声, Hổ bôn 虎贲, đều do Trung luỹ hiệu uý 中垒校尉thống lĩnh, hợp xưng là “bát hiệu uý” 八校尉. … (còn tiếp)

                                                          Huỳnh Chương Hưng

                                                           Quy Nhơn 06/02/2026

Nguồn

TRUNG QUỐC LỊCH SỬ NIÊN BIỂU

中国历史年表

Biên soạn: Phùng Tuệ Quyên 冯慧娟

Trường Xuân: Cát Lâm xuất bản tập đoàn cổ phần hữu hạn công ti, 2015

Previous Post Next Post