Dịch thuật: Nguồn gốc danh xưng tỉnh, thị, khu tự trị hiện hành của Trung Quốc (kì 4)

 

NGUỒN GỐC DANH XƯNG TỈNH, THỊ, KHU TỰ TRỊ

 HIỆN HÀNH CỦA TRUNG QUỐC

(kì 4)

          Quảng Đông 广东: Ở vào phía nam Nam lĩnh 南岭, bên bờ Nam hải 南海, thời cổ thuộc đất Bách Việt 百越 ( Việt), thời Tần đặt quận Nam Hải 南海, thời Hán bộ phận là nước Nam Việt 南越, thời Đường thuộc Lĩnh Nam đạo 岭南道, nhân vì đất là địa vực Quảng Châu 广州, lại ở phía nam của trung nguyên, đến thời Ngũ đại cùng với Quảng Tây 广西 hợp xưng là “Quảng Nam” 广南. Thời Bắc Tống đặt Quảng Nam lộ 广南路, sau phân làm hai lộ Quảng Nam đông 广南东và Quảng Nam tây 广南西, gọi tắt là Quảng Đông 广东, Quảng Tây 广西. Thời Minh Thanh là tỉnh Quảng Đông 广东. Hiện tỉnh hội là thành phố Quảng Châu 广州. Gọi tắt là “Việt” . Có lúc cùng với Quảng Tây hợp xưng là “Lưỡng Quảng” 两广.

         Khu tự trị dân tộc Tráng Quảng Tây 广西: Ở phía nam Trung Quốc, cạnh Việt Nam. Thời Xuân Thu Chiến Quốc là đất thuộc Bách Việt 百越 ( Việt), thời Tần đặt quận Quế Lâm 桂林, một bộ phận thuộc Tượng quận 象郡, thời Đường thiết lập Lĩnh Nam tây đạo 岭南西道, thời Tống là Quảng Nam tây lộ 广南西路, gọi tắt là Quảng Tây lộ, thời Nguyên thuộc Hồ Quảng hành sảnh 湖广行省, đời Thanh lập tỉnh Quảng Tây 广西. Tháng 3 năm 1958, thiết lập khu tự trị dân tộc Tráng Quảng Tây. Hiện tỉnh hội là thành phố Nam Ninh 南宁. Nhân vì thời cổ là quận Quế Lâm 桂林 nên gọi tắt là “Quế” .

          Hải Nam 海南: Ở giữa Nam hải, phía bắc cách eo biển Quỳnh Châu 琼州và tỉnh Quảng Đông 广东. Đầu thời Hán thiết lập hai quận Châu Nhai 珠崖và Đam Nhĩ 儋耳, thời Nam Bắc triều bắt đầu có tên “Hải Nam海南, thời Minh lập phủ Quỳnh Châu, đời Thanh đổi làm Quỳnh Nhai đạo 琼崖道. Tháng 4 năm 1988, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã phê chuẩn thành lập tỉnh Hải Nam 海南, tách ra từ tỉnh Quảng Đông 广东. Hiện tỉnh hội là thành phố Hải Khẩu 海口. Gọi tắt là “Quỳnh” .

          Tứ Xuyên 四川: Ở vào khu vực tây nam Trung Quốc, thượng du Trường Giang 长江, thời Xuân Thu là đất do nước Ba nước Thục quản lí, thời Tần lập quận Ba quận Thục , thời Đường thiết lập hai Tiết độ sứ là Kiếm Nam Tây Xuyên 剑南西川 và Kiếm Nam Đông Xuyên剑南东川. Thời Tống phân ra lập 4 lộ là Ích Châu 益州, Tử Châu 梓州, Lợi Châu 利州và Quỳ Châu 夔州, hợp xưng là “Xuyên hiệp tứ lộ” 川峡四路, gọi tắt là Tứ Xuyên lộ 四川路. Thời Nguyên đặt Tứ Xuyên hành sảnh 四川行省, thời Minh Thanh là tỉnh Tứ Xuyên 四川. Hiện tỉnh hội là thành phố Thành Đô 成都. Gọi tắt là “Xuyên” hoặc “Thục” .

          Quý Châu 贵州: Ở vào khu vực tây nam Trung Quốc, thời Chiến Quốc là đất của Kiềm Trung 黔中, Dạ Lang 夜郎. Thời Tần đặt quận Kiềm Trung 黔中và Tượng quận 象郡, thời Hán thuộc hai châu Kinh và Ích , thời Đường thiết lập Kiềm Trung đạo 黔中道, đầu thời Nguyên bắt đầu định danh là “Quý Châu” 贵州, thời Minh lập Quý Châu Bố chính sứ ti贵州布政使司, đời Thanh là tỉnh Quý Châu 贵州. Hiện tỉnh hội là thành phố Quý Dương 贵阳. Gọi tắt là “Kiềm” hoặc “Quý” .

          Vân Nam 云南: Ở vào phía biên thuỳ tây nam Trung Quốc, giáp với Miến Điện, Lào, Việt Nam. Thời trước nhân vì ở vào phía nam của Vân lĩnh 云岭, cho nên gọi là Vân Nam 云南. Thời Chiến Quốc là đất Sở thuộc nước Điền , thời Đường là nước Nam Chiếu 南诏, thời Tống là nước Đại Lí 大理, thời Nguyên đặt Vân Nam Hành trung thư sảnh 云南行中书省, thời Minh Thanh là tỉnh Vân Nam 云南. Hiện tỉnh hội là thành phố Côn Minh 昆明. Gọi tắt là “Điền” hoặc “Vân” .

          Khu tự trị Tây Tạng 西藏: Ở vào biên thuỳ tây nam Trung Quốc, giáp với các nước Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Miến Điện. Thời cổ là đất Khương đất Nhung , thời Đường Tống là đất Thổ Phồn 吐蕃, thời Nguyên thiết lập Tam lộ Tuyên phủ sứ ti 三路宣抚使司là Ô Tư Tạng 乌斯藏, Nạp Lí Tốc 纳里速, Cổ Lỗ Tôn 古鲁孙, lệ thuộc Trung ương Tuyên chính viện 中央宣政院. Thời Minh thiết lập Ô Tư Tạng Hành đô chỉ huy sứ ti 乌斯藏行都指挥使司. Ô Tư Tạng乌斯藏  tức Vệ Tạng 卫藏, nhân vì ở phía tây Trung Quốc nên gọi là “Tây Tạng” 西藏. Đời Thanh phái trú Tạng đại thần, thống hạt 4 khu vực Vệ , Tạng , Khách Mộc 喀木, A Lí 阿里. Tháng 9 năm 1965 thiết lập khu tự trị Tây Tạng, thủ phủ là thành phố Lạp Tát 拉萨 (Lhasa). Gọi tắt là “Tạng” .

          Thiểm Tây 陕西: Ở trung du Hoàng Hà 黄河, đầu thời Tây Chu lấy Thiểm Nguyên 陕原 (nay là khu Thiểm Châu 陕州thành phố Tam Môn Hiệp 三门峡 tỉnh Hà Nam 河南) làm ranh giới phân làm hai vùng đông và tây. Chu Công 周公 làm chủ Thiểm Đông , Thiệu Công 召公 làm chủ Thiểm Tây , cho nên tên gọi “Thiểm Tây” 陕西đã có từ rất lâu. Thời Xuân Thu Chiến Quốc là vùng đất do Tần quản hạt, Tần lập quận Nội Sử 内史 và quận Hán Trung 汉中. Thời Hán phân thuộc Ti lệ 司隶, Ích Châu 益州, sau loạn “An Sử” 安史 thời Đường,  bắt đầu thiết lập Thiểm Tây Tiết độ sứ 陕西节度使. Thời Tống đặt Thiểm Tây lộ 陕西路, thời Nguyên lập Thiểm Tây Hành trung thư sảnh 陕西行中书省. Thời Minh Thanh là tỉnh Thiểm Tây 陕西. Hiện tỉnh hội là thành phố Tây An 西安. Gọi tắt là “Tần” hoặc “Thiểm” . 

          Cam Túc 甘肃: Ở vào khu vực Tây Bắc Trung Quốc, một góc tây bắc tiếp giới với nước Mông Cổ. Thời cổ là hai châu Ung , Lương . Thời Xuân Thu thuộc Tần và Tây Nhung, Tần lập quận Lũng Tây 陇西, thời Hán là Lương Châu 凉州, thời Tây Hạ 西夏 tại Cam Châu 甘州 (nay là thành phố Trương Dịch 张掖), Túc Châu 肃州 (nay là thành phố Tửu Tuyền 酒泉) trong địa phận thiết lập Cam Túc Giám quân ti 甘肃监军司, bắt đầu thấy tên “Cam Túc” 甘肃. Thời Nguyên thiết lập Cam Túc Hành trung thư sảnh甘肃行中书省, thời Minh lệ thuộc tỉnh Thiểm Tây 陕西, đời Thanh đặt tỉnh Cam Túc 甘肃. Hiện tỉnh hội là thành phố Lan Châu 兰州. Gọi tắt là “Camhoặc “Lũng” . ..... (còn tiếp)

                                                                           Huỳnh Chương Hưng

                                                                           Quy Nhơn 05/11/2021

Nguyên tác Trung văn

HIỆN HÀNH TỈNH, THỊ, TỰ TRỊ KHU DANH XƯNG ĐÍCH DO LAI

现行省市自治区名称的由来

Trong quyển

TRUNG QUỐC VĂN HOÁ YẾU LƯỢC

中国文化要略

Tác giả: Trình Dụ Trinh 程裕祯

Bắc Kinh: Ngoại ngữ giáo học dữ nghiên cứu xuất bản xã, 2017