Dịch thuật: Mãn đình phương - Hán thượng phồn hoa (Từ Quân Bảo thê)

 

满庭芳

汉上(1) 繁华, 江南文物 (2), 尚遗宣政 (3) 风流. 绿窗朱户, 十里烂银钩 (4). 一旦刀兵齐举, 旌旗拥, 百万貔貅 (5). 长驱入, 歌楼舞榭 (6), 风卷落花 (7) .

          清平三百载 (8), 典章文物 (9), 扫地俱休. 幸此身未北, 犹客南州 (10). 破鉴 (11) 徐郎何在? 空惆怅, 相见无由. 从今后, 断魂千里, 夜夜岳阳楼 (12)                                                 (徐君宝妻)

MÃN ĐÌNH PHƯƠNG

Hán thượng (1) phồn hoa, Giang Nam nhân vật (2), thượng di Tuyên Chính (3)  phong lưu. Lục song chu hộ, thập lí lạn ngân câu (4). Nhất đán đao binh tề cử, tinh kì ủng, bách vạn tì hưu (5). Trường khu nhập, ca lâu vũ tạ (6), phong quyển lạc hoa (7) sầu.

          Thanh bình tam bách tải (8), điển chương văn vật (9), tảo địa câu hưu. Hạnh thử thân vị bắc, do khách nam châu (10). Phá giám (11)Từ lang hà tại? Không trù trướng, tương kiến vô do. Tùng kim hậu, đoạn hồn thiên lí, dạ dạ Nhạc Dương lâu (12).

                                                                       (Từ Quân Bảo thê)

Chú thích

1- Hán thượng 汉上: Phiếm chỉ vùng đất từ Hán thuỷ 汉水đến Trường Giang 长江.

2- Giang Nam nhân vật 江南人物: Chỉ nhiều nhân tài thời Nam Tống; Giang Nam 江南: Phía nam Trường Giang.

3- Tuyên Chính 宣政: Tuyên Hoà 宣和 và Chính Hoà 政和 đều là niên hiệu của Tống Huy Tông 宋徽宗 triều Bắc Tống. Câu này chỉ đô thị và nhân vật thời Nam Tống vẫn giữ được dư vận phong lưu thời Tống Huy Tông.

4- Lạn ngân câu 烂银钩: Móc rèm bằng bạc sáng bóng, đại biểu cho phòng ốc hoa lệ.

5- Tì hưu 貔貅: Mãnh thú trong truyền thuyết cổ đại, ở đây chỉ quân Nguyên.

6- Vũ tạ 舞榭: Lầu dành cho ca múa.

7- Phong quyển lạc hoa 风卷落花: Chỉ quân Nguyên chiếm lĩnh Lâm An 临安, Nam Tống diệt vong.

8- Tam bách tải 三百载: Chỉ Bắc Tống kiến quốc đến Nam Tống diệt vong. Ở đây mượn làm cho tròn số.

9- Điển chương văn vật 典章文物: Chỉ văn vật chế độ thời Nam Tống.

10- Nam châu 南州: Nam phương, chỉ Lâm An 临安.

11- Phá giám 破鉴: Tức “phá kính” 破镜 (gương vỡ)

12- Nhạc Dương lâu 岳阳楼: Tại phía tây Nhạc Dương 岳阳 Hồ Nam 湖南. Ở đây chỉ quê hương của tác giả.

Dịch ý

          Từ Hán thuỷ đến Trường giang cả một vùng phồn hoa, nhân tài chốn Giang Nam, còn giữ được dư vận phong lưu thời Tuyên Hoà, Chính Hoà đời Tống Huy Tông triều Bắc Tống. Cửa sổ xanh cửa lớn đỏ, mười dặm phòng ốc hoa lệ. Một sớm binh đao nổi dậy, cờ xí rợp trời, với trăm vạn quân Nguyên. Chúng tràn đến, ca lâu vũ tạ bị huỷ hoại, vận mệnh cá nhân như hoa rụng trước gió.

          Đất nước thanh bình đã ba trăm năm, điển chương văn vật, trong phút chốc bị huỷ diệt toàn bộ. Thân này may mắn không bị đưa về phương bắc, hãy còn làm khách phương nam. Gương đã vỡ, Từ lang chàng hiện ở nơi đâu? Chỉ riêng thân thiếp buồn đau, không còn lí do gặp lại. Từ nay về sau, hồn thiếp quay về cố hương xa ngàn dặm, để đêm đêm gặp gỡ người thân.

Bối cảnh ra đời tác phẩm

Vợ của Từ Quân Bảo 徐君宝là nữ từ nhân thời Nam Tống. Bà không để lại họ tên, chỉ lưu lại một bài “tuyệt mệnh từ” được hậu thế kính phục.

          Nguyên bà là người Nhạc Châu 岳州, bị quân Nguyên bắt đưa đến Hàng Châu 杭州, an trí nơi phủ của Hàn Kì Vương 韩蕲王. Từ Nhạc Châu đến Hàng Châu cách xa cả mấy ngàn dặm, gặp phải mấy lần bị xâm phạm, nhưng bà đều dùng kế tránh được. Nhân vì bà có sắc đẹp nên chủ nhân không nỡ giết. Cuối cùng một ngày nọ, có một viên tướng lĩnh quân Nguyên đến phủ Hàn Kì Vương cưỡng bức. Bà khéo léo dùng lời, xin trước tiên tế người chồng, sau đó sẽ làm vợ cũng không muộn. Tướng Nguyên nghe qua cả mừng. Bà biết rằng ác vận khó tránh, cũng không thể về nhà cùng người thân đoàn tụ, thế là bà soi kính trang điểm, mặt quay về hướng tây thắp hương quỳ bái, nuốt nước mắt nén tiếng khóc, không hề do dự cầm bút viết lên vách bài từ theo điệu “Mãn đình phương” 满庭芳 vô cùng cảm động, sau đó thung dung đến bên cửa sổ gieo mình xuống ao tuẫn tiết.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng

                                                                  Quy Nhơn 26/10/2021

Nguồn

http://www.yueyang.gov.cn/yyts/mr/bdrw/content_201451.html