Dịch thuật: Hoàn Nhan A Cốt Đả, Hoàn Nhan Cảnh.



HOÀN NHAN A CỐT ĐẢ     HOÀN NHAN CẢNH

Hoàn Nhan A Cốt Đả 完颜阿骨打 (1068 – 1123)
          Tức Kim Thái Tổ 金太祖, tộc Nữ Chân 女真. Thời Liêu là Đô Bột Cực Liệt 都勃极烈 của các tộc Nữ Chân (Đô bộ trưởng 都部长), năm Thiên Khánh 天庆 thứ 5 kiến lập nước Kim , xưng đế, niên hiệu Quốc Thu 国收. Liên tiếp đánh bại quân Liêu, chiếm lấy Thượng kinh 上京 (nay là Tả kì Ba Lâm 左旗巴林Nội Mông Cổ 内蒙古), Trung kinh 中京 (nay là phía tây nam Ninh Thành 宁城 Nội Mông Cổ内蒙古), Nam kinh 南京 (nay là Bắc Kinh 北京), đuổi Liêu Thiên Tộ đế 辽天祚帝.
          Hoàn Nhan A Cốt Đả完颜阿骨打 có miếu hiệu là Thái Tổ 太祖, thuỵ là Vũ Nguyên Hoàng Đế 武元皇帝. Trong Kim văn tối 金文最 quyển 50, 113 có thu thập 13 thiên văn của ông. Sự tích về cuộc đời của ông thấy trong Kim sử 金史 quyển 2, Đại Kim quốc chí 大金国志  từ quyển 1đến quyển 2.
                                                              (Tra Hồng Đức 查洪德)

Hoàn Nhan Cảnh 完颜暻 (1168 – 1208)
          Tức Kim Chương Tông 金章宗, tộc Nữ Chân 女真. Cháu của Kim Thế Tông 金世宗, con của Doãn Cung 允恭. Tiểu tự Ma Đạt Cát 麻达葛, tên do Thế Tông ban cho. Lúc nhỏ học ngữ văn Nữ Chân cùng sách vở Hán ngữ. Phụ thân qua đời, Hoàn Nhan Cảnh được phong làm Nguyên Vương 原王, năm sau bái làm Thượng thư Hữu thừa tướng 尚书右丞相, lập làm hoàng thái tôn. Thế Tông qua đời, ông lên ngôi. Thời gian tại vị, ông định ra lễ nhạc, tu bổ hình pháp, cải cách quan chế, định khoa cử, kiến lập miếu Khổng Tử 孔子, tu bổ Đại Kim tập lễ 大金集礼, Tân định luật lệnh sắc lệnh sắc điều cách thức 新定律令敕令敕条格式, sắc biên soạn Liêu sử 辽史, đồng thời biên tập án độc tấu chương nhiều đến 2000 quyển. Hoàn Nhan Cảnh yêu thích văn hoá Hán, cho sưu tập tranh ảnh sách vở cùng thư hoạ của các danh nhân. Ông giỏi thư pháp, giỏi thi ca, Lưu Kì 刘祁bình thơ của ông là “bút lực thậm hùng” 笔力甚雄 (bút lực rất mạnh) (Quy tiềm chí 归潜志quyển 1).
          Hoàn Nhan Cảnh完颜暻 tại vị 19 năm, miếu hiệu Chương Tông 章宗.
          Trong Trung Châu tập 中州集 quyển đầu có thu thập 1 bài thơ của ông, trong Toàn Kim thi 全金诗 quyển đầu đã tăng bổ 6 bài, Trong Kim văn tối 金文最 quyển 12, 13 thu thập 2 thiên văn của ông, trong Quy tiềm chí 归潜志 quyển 1 chép 2 bài từ của ông, và được đưa vào  bộ Tống Kim Nguyên từ 宋金元词.
          Sự tích về cuộc đời của ông thấy trong Kim sử 金史  từ quyển 9 đến quyển 12 “Chương Tông bản kỉ” 章宗本纪, trong Đại Kim quốc chí 大金国志  từ quyển 19 đến quyển 21, trong Trung Châu tập 中州集 quyển đầu, trong Quy tiềm chí 归潜志  quyển 1.
                                                              (Tra Hồng Đức 查洪德)

Chú của người dịch
- Kim Thái Tổ 金太祖 tức Hoàn Nhan A Cốt Đả 完颜阿骨打, vị hoàng đế kiến lập triều Kim, tại vị từ năm 1114 đến năm 1123.
- Kim Thái Tông 金太宗 tức Hoàn Nhan Thịnh 完颜晟, vị hoàng đế thứ 2 triều Kim, tại vị từ năm 1123 đến năm 1135.
- Kim Hi Tông 金熙宗 tức Hoàn Nhan Đản 完颜亶, vị hoàng đế thứ 3 triều Kim, tại vị từ năm 1135 đến năm 1149.
- Hải Lăng Dượng Vương 海陵炀王 tức Hoàn Nhan Lượng 完颜亮亮, vị hoàng đế thứ 4 triều Kim, bị phế, tại vị từ năm 1149 đến năm 1161.
- Kim Thế Tông 金世宗 tức Hoàn Nhan Ung 完颜雍, vị hoàng đế thứ 5 triều Kim, tại vị từ năm 1161 đến năm 1189.
- Kim Chương Tông 金章宗 tức Hoàn Nhan Cảnh 完颜璟, vị hoàng đế thứ 6 triều Kim, tại vị từ năm 1189 đến 1208. (tên “Cảnh” của ông ở tư liệu này và trong một số tư liệu khác viết với bộ  tức , riêng trong Trung Quốc văn học gia đại từ điển – Liêu Kim Nguyên quyển 中国文学家大辞典 - 辽金元卷 là bộ tức  - ND)
- Vệ Thiệu Vương 卫绍王 tức Hoàn Nhan Vĩnh Tế 完颜永济, vị hoàng đế thứ 7 triều Kim, tại vị từ năm 1208 đến năm 1213.
- Kim Tuyên Tông 金宣宗 tức Hoàn Nhan Tuần 完颜珣, vị hoàng đế thứ 8 triều Kim, tại vị từ năm 1213 đến năm 1223.
- Kim Ai Tông 金哀宗 tức Hoàn Nhan Thủ Tự 完颜守绪, vị hoàng đế thứ 9 triều Kim, tại vị từ năm 1223 đến năm 1234
- Kim Chiêu Tông 金昭宗 tức Hoàn Nhan Thừa Lân 完颜承麟, vị hoàng đế thứ 10 triều Kim, tại vị năm 1234.

                                                                        Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 11/12/2019

Nguồn
TRUNG QUỐC VĂN HỌC GIA ĐẠI TỪ ĐIỂN
LIÊU, KIM, NGUYÊN QUYỂN
中国文学家大辞典
, , 元卷
Chủ biên: Đặng Thiệu Cơ 邓绍基, Dương Liêm 杨镰
Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 2006.
Previous Post Next Post