Dịch thuật: Ôm cầm, ai nỡ đứt dây cho đành (1400) ("Truyện Kiều")


ÔM CẦM, AI NỠ ĐỨT DÂY CHO ĐÀNH (1400)
Ôm cầm: tức “ôm đàn”. Ý nói phụ nữ lấy chồng.
          Theo “Tiếng Việt trong thư tịch cổ Việt Nam” quyển 1 của Nguyễn Thạch Giang:
          Ôm cầm: Nói việc phụ nữ lấy chồng.
          (NXB Khoa học xã hội, 2003)
          Theo “Thành ngữ - Điển tích – Danh nhân TỪ ĐIỂN” của Trịnh Vân Thanh:
          Ôm cầm: Ôm cây đàn. Nàng Kiều Oanh trong “Thiên Hương Tập” có nói: “Thiếp dĩ thân hứa quân, tuy toái ngọc trầm châu, diệt bất bão tỳ bà quá biệt thuyền ” nghĩa là: Tôi đem thân theo chàng, dẫu đến độ nát ngọc chìm châu cũng không bao giờ ôm đàn tỳ bà qua thuyền khác. Ý nói sự kiên trinh của người đàn bà quyết thờ chồng cho trọn đạo, không bao giờ muốn thay đổi lòng chung thuỷ.
          ........
          (NXB Văn học, 2007)
Trong Ẩn cư thông nghị 隐居通议  của Lưu Huân 刘埙 có thu thập bài
“Đề Tì Bà đình” 题琵琶亭 của Long Nhân Phu 龙仁夫:
Lão đại nga mi phụ sở thiên
Thượng lưu dư vận nhập ai huyền
Giang tâm chính hảo khan minh nguyệt
Khước bão tì bà quá biệt thuyền
老大蛾眉负所天
尚留余韵入哀弦
江心正好看明月
却抱琵琶过别船
(Nàng “nga mi” mất đi người chồng mà mình nương tựa
Dư âm ai oán còn lưu đã nhập vào dây đàn
Dòng sông đương lúc trăng rọi sáng
Nàng “nga mi” lại ôm đàn bước sang thuyền khác tiếp tục đàn)
          Bài thơ này, bề ngoài dường như châm biếm mỉa mai tì bà nữ trong phút chốc dã quên người chồng đã mất, nhưng kì thực là từ một câu chuyện gốc mà Ẩn cư thông nghị đã thuật:
          Khi Tống Nguyên giao chiến, Đại tướng nhà Nam Tống là Lữ Văn Hoán 吕文焕 đang trấn thủ Tương Dương 襄阳, cầm cự được 5 năm thì binh tận lương tuyệt, Lữ Văn Hoán đầu hàng và nhậm chức quan cao của triều Nguyên. Sau khi nhà Tống mất, có một lần, Long Nhân Phu gặp được Lữ Văn Hoán, trong lúc uống rượu ngà say, Lữ Văn Hoán mệnh cho làm thơ, Long Nhân Phu cảm khái việc cả nhà họ Lữ không người  nào khảng khái kháng cự để báo quốc, nên mới làm bài thơ này.

Cùng nhau vả tiếng một ngày
Ôm cầm, ai nỡ đứt dây cho đành
(“Truyện Kiều” 1399 - 1400)
Ôm cầm: Chỉ người phụ nữ đi lấy chồng, ôm lấy, giữ lấy.
(Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
Thiên hương tập: Kiều oanh viết thiếp dĩ thân hứa quân, tuy toái ngọc trầm châu, diệc bất bão tỳ bà quá biệt thuyền dã.
          天香集: 嬌鶯曰妾以身許君雖碎玉沉珠亦不抱琵琶過別船
          (Tập Thiên hương: Nàng Kiều Oanh nói: tôi đem mình theo chàng dẫu đến nát ngọc chìm châu, cũng không ôm đàn tỳ bà qua thuyền khác)
(Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)

Xét: “Ôm cầm” hay chỉ việc phụ nữ lấy chồng; còn “ôm đàn sang thuyền khác” ý nói phụ nữ cải giá hoặc tái hôn. Trong bài “Tì bà hành” 琵琶行của Bạch Cư Dị 白居易 có câu:
Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai
Do bão tì bà bán già diện
千呼万唤始出来
犹抱琵琶半遮面
(Mời gọi mãi mới bắt đầu xuất hiện
Tay hãy còn ôm đàn tì bà che khuất nửa mặt)
Và từ câu “Khước bão tì bà quá biệt thuyền” trong bài “Đề Tì Bà đình” của Long Nhân Phu, người đời sau đã liên hệ lại, mượn dùng để ví việc phụ nữ cải giá hoặc tái hôn. Thực ra Bạch Cư Dị không hề nói rõ việc tì bà nữ cải giá, và câu “Do bão tì bà bán già diện” cũng không hề có hàm nghĩa “biệt bão” 别抱 (ôm đàn sang thuyền khác).
Câu 1400 trong “Truyện Kiều” “Ôm cầm, ai nỡ đứt dây cho đành” Thúc Sinh ý nói Thuý Kiều đã là vợ của mình, không nỡ bỏ để Kiều đi lấy chồng khác.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 03/8/2020