Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

Dịch thuật: Bài chế của vua Thành Thái phong tước Vinh Quang Tử cho Đào Tấn

Đăng lúc  21:56  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật

BÀI CHẾ CỦA VUA THÀNH THÁI
PHONG TƯỚC
VINH QUANG TỬ  CHO ĐÀO TẤN

         
天興運
       皇帝制曰朕惟邊閫干城之寄盡職為良國家茅土之封有功則賞睠惟循吏盍舉旌章咨爾太子少保協辨大學士領安靜總督陶進早擢儒科繼登士籍文章主眷曾視草於中書撫字民庸著政聲於三輔多年敭歷三命益恭曩鎮驩州擒防善策化也非徒法也安之所以勝之嗣而入綰部章參籌樞務不謂鴻藍舊鎮儂土上游垣雖息於鴈嗷莽尚虞夫戎伏久勞注措再命旬宣益州得張詠之復來穎郡喜寇恂之願借忠信行乎蠻貊輸誠而革面革心陰寒煦以陽春樂業而爾田爾宅貴欽使既見稱其幹濟院大臣又請錄其勞能允協予心宜稠異渥著晉封為榮光子錫之誥命尚其愛憂一念忠孝永肩輯瑞虞庭既疏榮於穀璧盟勳漢府尚長誌於丹書
       欽哉
       成泰拾四年六月二十五日

Phiên âm
       
Thừa thiên hưng vận
Hoàng đế chế viết
Trẫm duy:
Biên khổn (1) can thành (2) chi kí, tận chức vi lương,
Quốc gia mao thổ (3) chi phong, hữu công tắc thưởng.
Quyến duy tuần lại, hạp cử tinh chương.
Tư nhĩ: Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ lãnh An Tịnh tổng đốc Đào Tấn.
Tảo trạc Nho khoa, kế đăng sĩ tịch.
Văn chương chủ quyến, tằng thị thảo ư Trung thư (4),
Phủ tự (5) dân dung, trứ chính thanh ư Tam phụ (6).
Đa niên dương lịch (7), tam mệnh ích cung,
Nãng trấn Hoan châu, cầm phòng thiện sách.
Hoá dã phi đồ pháp dã,
An chi sở dĩ thắng chi.
Tự nhi nhập oản bộ chương, tham trù xu vụ bất vị.
Hồng Lam cựu trấn, nùng thổ thượng du.
Viên tuy tức ư nhạn ngao (8)
Mãng thượng ngu phù nhung phục (9).
Cửu lao chú thố, tái mệnh tuần tuyên (10).
Ích châu đắc Trương Vịnh (11) chi phục lai,
Dĩnh quận hỉ Khấu Tuân (12) chi nguyện tá.
Trung tín hành hồ man mạch, thâu thành nhi cách diện (13) cách tâm,
Âm hàn hú dĩ dương xuân, lạc nghiệp nhi nhĩ điền nhĩ trạch.
Quý khâm sứ kí kiến, xưng kì cán tế,
Viện đại thần hựu thỉnh, lục kì lao năng.
Doãn hiệp dư tâm, nghi trù dị ác.
Trứ tấn phong vi Vinh Quang Tử, tích chi cáo mệnh
Thượng kì:
Ái ưu nhất niệm, trung hiếu vĩnh kiên.
Tập thuỵ Ngu đình, kí sơ vinh ư cốc bích (14),
Minh huân Hán phủ, thượng trường chí ư đan thư.
Khâm tai
Thành Thái thập tứ niên lục nguyệt nhị thập ngũ nhật. 

Chú thích
1- BIÊN KHỔN (邊閫): cống thành ngoài gọi là “khổn”. “Biên khổn” là vùng đất xa hoàng cung.

2- CAN THÀNH (干城): “can” là cái thuẫn, một loại binh khí dùng để tự vệ. “thành” là bức tường. Can và thành đều dùng để phòng vệ. “Can thành” xuất phát từ bài Thố tư (兔罝) phần Chu Nam trong Kinh thi:
Củ củ vũ phu
Công hầu can thành.
赳赳武夫
公侯干城
Dáng vũ phu uy vũ
Có thể dùng làm thuẫn làm thành cho công hầu (để che chở nhân dân và bờ cõi)
(Theo Tạ Quang Phát: Kinh thi, tập 1, trang 62. NXB Văn học, Hà Nội, 1991)
          Ở đây ý nói bảo vệ vùng biên cương.

3- MAO THỔ (茅土): chỉ việc phong tặng cho chư hầu. Ngày xưa, đàn tế Xã của thiên tử đắp đất ngũ sắc. Khi phong tặng chư hầu coi giữ một nơi, xem đất phong của họ ở hướng nào sẽ lấy đất có màu ứng vào hướng đó, dùng bạch mao gói lại, biểu trưng cho người thụ phong đã có “quốc”, và có thể lập Xã. Gọi đó là “thụ mao thổ” (授茅土).
          Ở đây ý nói phong tặng.

4- TRUNG THƯ (中書): tên chức quan. Đời Vũ Đế nhà Hán đặt “Trung thư yết lệnh giả” (中書謁令者), đời Thành Đế đổi thành “Trung yết giả lệnh” (中謁). Đời Văn Đế nhà Nguỵ đổi thành “Trung thư lệnh” (中書令). Nhà Tuỳ đổi “Trung thư” ra “Nội sử” (內史). Đời Vũ Đức nhà Đường là “Nội sử lệnh” (內史令), sau đổi là “Hữu tướng”, “Tử vi lệnh”, lại đổi gọi là “Trung thư lệnh”. Đời Minh bỏ Trung thư tỉnh, đặt riêng Nội các trung thư và Trung thư khoa Trung thư. Phàm nội các sắc phòng và Chế sắc phòng đều đặt chức “Trung thư xá nhân”, chuyên giữ việc viết những văn thư cơ mật.

5- PHỦ TỰ (撫字): vị quan tốt, thương yêu và biết lo cho dân

6- TAM PHỤ (三輔): tên ba chức quan, đó là Kinh triệu doãn (京兆尹), Tả phùng dực (左馮翊), Hữu phù phong (右扶風)

7- DƯƠNG LỊCH (敭歷): sự từng trải trên con đường làm quan

8- NHẠN NGAO (鴈嗷): ý nói dân chúng cực khổ đau thương.
           Bài thơ Hồng nhạn (鴻雁) phần Tiểu nhã trong Kinh thi có câu:
Hồng nhạn vu phi
Ai minh ngao ngao
鴻雁于飛
哀鳴嗷嗷
Chim hồng chim nhạn bay đi
Kêu bi thương ngao ngao
          Chu Hi chú giải rằng:
           Dân lưu lạc lấy việc chim hồng chim nhạn kêu bi thương để tự ví mà làm ra bài ca này
(Theo Tạ Quang Phát: Kinh thi, tập 2, trang 893, 894.)

9- NHUNG PHỤC (戎伏): hào Cửu tam ở quẻ Đồng nhân (同人) trong Kinh dịch có câu:
Phục nhung vu mãng
伏戎于莽
Quân ẩn núp nơi rừng rậm
          Câu trong bài chế ý nói bọn giặc cỏ còn ẩn núp nơi rừng núi.

10- TUẦN TUYÊN (旬宣): vâng mệnh vua truyền bá mệnh lệnh khắp nơi.
            Bài Giang Hán (江漢) phần Đại nhã trong Kinh thi:
Vương mệnh Thiệu Hổ
Lai tuần lai tuyên
王命召虎
來旬來宣
Vua sai Thiệu Hổ
Đi khắp nơi mà truyền bá mệnh lệnh của vua
           Tuần là khắp nơi; Tuyên là truyền bá ra
(Theo Tạ Quang Phát: Kinh thi, tập , trang 1646.)

11- TRƯƠNG VỊNH (張詠): tự Phục Chi (復之), hiệu Quai Nhai (乖崖), người Nhân Thành (鄄城), Bộc Châu濮州), đậu Tiến sĩ năm 980, niên hiệu Thái bình hưng quốc, giữ chức Đại lí bình sự, Tri huyện Sùng Dương (崇陽), làm quan đến Xu mật Trực học sĩ. Ông 2 lần làm tri châu Ích Châu, dân chúng vô cùng mến phục. Khi mất có tên thuỵ là Trung Định (忠定).

12- KHẤU TUÂN (寇恂): tự Tử Dực (子翼), người Xương Bình (昌平) thời Đông Hán. Ông theo Hán Quang Vũ đi bình định Hà Nội, được giữ chức Thái thú Hà Nội. Sau được điều đến trấn giữ Dĩnh Xuyên (穎川), nhiều lần dẹp tan đám giặc cỏ, được phong tước Ung Nô Hầu (雍奴侯). Về sau làm Thái thú Nhữ Nam (汝南). Lúc bấy giờ giặc giã lại nổi lên ở Dĩnh Xuyên, ông theo vua xuất chinh. Qua Dĩnh Xuyên, bách tính đón đường tâu xin:
Nguyện tùng bệ hạ phục tá Khấu quân nhất niên
願從陛下復借寇君一年
(Nguyện mong bệ hạ cho được mượn lại Khấu quân một năm)
          Vua cho ông ở lại trấn giữ. Khi mất có tên thuỵ là Uy Hầu (威侯)

13- CÁCH DIỆN (革面): sửa đổi cái sai, hướng tới điều tốt.
          Trong Kinh dịch, phần Hệ từ có câu:
Tẩy tâm cách diện
洗心革面
Rửa lòng đổi mặt
         Ý nói sửa đổi cái sai, biết hướng thiện.

14- CỐC BÍCH (穀璧): một loại ngọc trong 6 loại. Tước Tử cầm ngọc Cốc bích.
          Thiên Xuân quan – Đại tông bá (春官 - 大宗伯) trong Chu lễ có ghi:
          Vương chấp Trấn khuê, Công chấp Hoàn khuê, Hầu chấp Tín khuê, Bá chấp Cung khuê, Tử chấp Cốc bích, Nam chấp Bồ bích.
          王執鎮圭, 公執桓圭, 侯執信圭, 伯執躬圭, 子執穀璧, 男執蒲璧
          Vương cầm ngọc Trấn khuê, tước Công cầm ngọc Hoàn khuê, tước Hầu cầm ngọc Tín khuê, tước Bá cầm ngọc Cung khuê, tước Tử cầm ngọc Cốc bích, tước Nam cầm ngọc Bồ bích.

Dịch nghĩa

Vâng mệnh trời, hưng vận nước.
Hoàng đế chế rằng
Trẫm nghĩ:
Ở chốn xa xôi gìn giữ, tận lực là trung,
Nước nhà ban tặng phân phong, có công phải thưởng.
Xét trong quan lại, chọn để nêu gương.
Nay quan Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ
Lãnh chức Tổng đốc An Tịnh là Đào Tấn,
Sớm đạt khoa trường, dự hàng quan chức.
Văn chương chúa mến, bút tài giỏi hơn Trung thư,
Đức độ dân thương, cai trị trội hơn Tam phụ.
Nhiều năm vất vả, việc nước thêm chăm,
Từng trải châu Hoan, kế mưu hoàn bị.
Giáo hoá nào riêng phép nước,
Nhân từ nên được ngợi khen.
Nối tiếp thống lĩnh quân binh,
Tham dự luận bàn việc nước.
Hồng Lam trấn cũ, nùng thổ thượng du.
Tuy nơi cai quản không còn tiếng kêu than,
Nhưng miền hoang vắng còn phải lo giặc cỏ.
Nhọc công sắp đặt, vâng mệnh ban truyền.
Như Ích Châu được Trương Vịnh trở về,
Như Dĩnh quận mừng Khấu Tuân ở lại.
Lấy trung tín thi hành nơi man mạch, khiến dân biết hướng thiện sửa sai,
Lấy nắng xuân sưởi ấm chốn âm u, khiến dân vui ruộng vườn no đủ.
Quan khâm sứ thấy tài năng nổ,
Chúng đại thần tâu ghi nhớ công lao.
Hợp với lòng ta, thuận cùng ý chúng.
Nay tấn phong tước Vinh Quang Tử, ban xuống chiếu thư.
Ngõ hầu:
Ưu ái một lòng,
Hiếu trung mãi gánh.
Gom ngọc thuỵ chốn sân Ngu, chạm trổ vẻ vang cốc bích,
Dốc lập công nơi phủ Hán, ghi chép mãi trong sách son.
Kính thay
Thành Thái, năm thứ 14 tháng 6 ngày 25.

Huỳnh Chương Hưng: phiên âm, chú thích và dịch nghĩa
                                                                              (Ngày 21/7/2004)

Chia sẻ bài viết

Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
back to top