KÍNH NGHIỆP NHẠO QUẦN
敬業樂羣
(Chuyên tâm trí chí vào việc học
hoặc sự nghiệp, với bạn bè cũng vui vẻ
hoà mục)
Xuất xứ: “Lễ kí – Học kí” 禮記 - 學記.
Trong thành ngữ “Kính nghiệp nhạo quần”
này, chữ 樂 có chú âm là “yào” (nhạo). “Nhạo” có nghĩa là
yêu thích, như:
Trí giả nhạo thuỷ,
nhân giả nhạo sơn.
知者樂水, 仁者樂山
(Người trí thì yêu
thích nước, người nhân thì yêu thích núi)
Thành ngữ “Kính nghiệp nhạo quần” 敬業樂羣 xuất từ “Lễ kí
– Học kí” 禮記 - 學記:
Nhất niên thị li
kinh biện chí.
一年視離經辨志
((Người cầu học) Sau một năm bỏ công
phu học tập, thì quan sát năng lực đọc kinh sách của họ, có thể chấm câu hay không,
cùng phân biệt rõ chí hướng của họ.
Tam niên thị kính
nghiệp nhạo quần.
三年視敬業樂羣
(Sau ba năm bỏ công phu học tập, thì
quan sát họ đối với thầy dạy có kính trọng và thân cận hay không, đối với bạn bè
đức hạnh có vui vẻ kết giao hay không.)
Ngoài ra, căn cứ vào tập giải của Tôn
Hi Đán 孫希旦, dẫn lời của Chu
Hi 朱熹 rằng:
Kính nghiệp giả, chuyên tâm trí chí,
dĩ sự kì nghiệp dã. Lạc quần giả, lạc (1) ư thủ ích, dĩ phụ kì nhân.
敬業者, 専心致志, 以事其業也. 樂羣者, 樂 (1) 於取益, 以輔其仁.
(Kính nghiệp là dồn hết tâm trí để phục vụ cho việc học
hoặc nghề nghiệp; Lạc quần là vui ở chỗ có được lợi ích để phụ cho điều nhân)
Nói một cách đơn giản là: Cá nhân cần dồn hết tâm trí sức lực vào việc học
hoặc sự nghiệp. Đối với bạn bè cũng đối xử vui vẻ hoà mục.)
Cuối cùng, có 2 điểm cần chú ý:
1-Chữ
樂 trong thành ngữ này,
âm đọc là “nhạo”, chú âm là “yào”. Nhưng hiện nay, có người đem “Kính
nghiệp nhạo quần” đọc là “Kính nghiệp lạc quần”, đó là
không đúng, cũng giống như câu “Trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo
sơn” không thể đọc là “Trí giả lạc thuỷ, nhân giả lạc sơn”.
2-Chữ 羣 (quần) thuộc bộ 羊 (dương), ngày nay người ta đem chữ 羣 viết thành 群, tuy có thể thông dụng, nhưng rốt cuộc đó là tục thể tự.
Chú
của người dịch
1- Chữ 樂 ở câu này, trong nguyên văn chú âm là “lè” tức âm “lạc”.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 02/7/2026
Nguồn
MỖI NHẬT NHẤT TỪ
每日一辭
Biên soạn: Lâm Lê 林藜
Hoa Thị xuất bản xã
ấn hành
Trung Hoa Dân Quốc,
80 niên (1991)
