折柳枝
休從塔上飛黄鶴
莫使汀洲滿白蘋
灞水橋邊長柳綠
殷勤折贈遠行人
CHIẾT LIỄU CHI
Hưu
tùng tháp thượng phi hoàng hạc
Mạc sử
đinh châu mãn bạch tần
Bá thuỷ
kiều biên trường liễu lục
Ân cần chiết tặng viễn hành nhân
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 14/7/2026
Chiết
liễu chi 折柳枝: Từ
bài danh, còn có tên “Dương liễu chi” 楊柳枝,
“Dương liễu” 楊柳, bắt nguồn từ khúc điệu “Chiết
dương liễu” 折楊柳trong nhạc phủ thời Bắc triều. Khoảng
niên hiệu Khai Nguyên 開元thời
Đường Huyền Tông 唐玄宗được nhập vào giáo phường, về sau
trải qua sự chỉnh lí cải biên của Bạch Cư Dị 白居易, Lưu Vũ Tích 劉禹錫trở
thành từ điệu, thể chế là thất ngôn tuyệt cú, tức 4 câu 28 chữ.
Câu
1: theo truyền thuyết dân gian Trung Quốc, Phí Văn Vĩ 費文偉một tu sĩ đắc đạo thành tiên thường cưỡi hạc vàng
ngao du sơn thuỷ. Lần nọ, bay ngang qua Vũ Hán 武漢, ông dừng lại trên Xà sơn 蛇山ngắm
nhìn cảnh đẹp của Trường Giang và Ngũ hồ. Người đời sau đã từ nơi đây xây lên một
toà tháp đặt tên là “Hoàng Hạc lâu” 黄鶴樓.
Thôi Hiệu 崔顥đời Đường
đã sáng tác bài “Hoàng Hạc lâu” 黄鶴樓rất nổi tiếng, trong đó có câu:
Hoàng
hạc nhất khứ bất phục phản
黄鶴一去不復返
(Hạc
vàng một đi không trở lại)
Câu 2: điển xuất từ bài “Giang Nam
xuân – Ba miểu miểu” 江南春 - 波渺渺 của Khấu Chuẩn 寇准đời Tống:
波渺渺
柳依依
孤村芳草遠
斜日杏花飛
江南春盡離腸斷
蘋滿汀洲人未歸
Ba miểu miểu
Liễu y y
Cô thôn phương thảo viễn
Tà nhật hạnh hoa phi
Giang Nam xuân tận li trường đoạn
Tần mãn đinh châu nhân vị quy
(Sóng mênh mông
Liễu bay bay
Cỏ thơm chốn cô thôn xa tắp
Hoa hạnh bay trong chiều tà
Mùa xuân ở Giang Nam đã qua đi,
sầu chia li buồn não ruột
Nơi cồn cát nhỏ hoa tần đã nở đầy
mà người vẫn chưa về)
Đinh
châu 汀洲:
cồn cát nhỏ.
Tần 蘋: là loài thực vật thuỷ sinh, phần
rễ cắm trong bùn, lá nổi trên mặt nước.
Câu 3: điển xuất từ thành ngữ “Bá kiều
chiết liễu” 灞橋折柳cũng
nói là “Bá Lăng chiết liễu” 灞陵折柳.
Bá kiều
灞橋:
cầu từng có các tên như: “Tình tận kiều” 情尽桥, “Đoạn trường kiều” 断肠桥, “Tiêu hồn kiều” 销魂桥, là cây cầu trong địa phận Bá
Kiều khu 灞桥区thành
phố Tây An 西安tỉnh
Thiểm Tây 陕西Trung
Quốc. Đây là cây cầu cổ xưa tương đối lớn rất nổi tiếng, cũng là một trong
“Trung Quốc thập đại danh kiều” 中国十大名桥, từ Tây An đi về phía đông tất qua cây cầu này.
Bá thuỷ 霸水: từ xưa
có tên là Tư thuỷ 滋水, vào một năm nọ, để tuyên dương công
lao to lớn “xưng bá tây nhung” 稱霸西戎của mình,
Tần Mục Công 秦穆公 đã đổi tên thành “Bá thuỷ” 霸水. Đến thời Tuỳ lại dùng trở lại tên “Tư thuỷ” 滋水, từ thời Đường trở về sau, gọi là “Bá thuỷ” 灞水, cây cầu bắc ngang qua Bá thuỷ gọi là “Bá kiều” 灞橋danh truyền thiên cổ
“Bá
kiều chiết liễu” 灞橋折柳: Nơi Bá kiều có lập một dịch trạm, phàm tiễn biệt người
thân bạn bè đi về phía đông đều chia tay tại nơi này, bẻ cành liễu tặng cho
nhau, lâu dần thành tập tục.
Thời Đường, Bá kiều 灞桥đi về phía đông và Vị Thành 渭城hướng đến Dương Quan 阳关đi về phía tây là hai nơi tống biệt chủ yếu, rất nổi tiếng.
Tạm dịch
Đừng như hoàng hạc trên lầu bay
đi mãi
Chớ để bạch tần mọc khắp đinh
châu
Bên cầu nơi sông Bá liễu đã dài
và xanh biếc
Ân cần bẻ tặng cho người đi xa
