更漏子
月初升
雲已淡
秋夜深沉漫漫
花睡去
露霜輕
鳥啼三兩聲
泉水潔
馬蹄絕
春夏悄然更迭
長竹影
綠階苔
武夷香就來
CANH LẬU TỬ
Nguyệt
sơ thăng
Vân dĩ
đạm
Thu dạ
thâm trầm mạn mạn
Hoa
thuỵ khứ
Lộ
sương khinh
Điểu đề tam lưỡng thanh
Tuyền
thuỷ khiết
Mã đề
tuyệt
Xuân hạ
tiễu nhiên canh điệt
Trường
trúc ảnh
Lục
giai đài
Vũ Di hương tựu lai
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 12/5/2026
Mạn
mạn 漫漫: hình
dung thời gian dài lâu, hoặc không gian rộng lớn.
Mã đề 馬蹄: móng ngựa.
Trong “Tiểu song u kí” 小窗幽记của Trần Kế Nho 陈继儒đời Minh có đoạn:
垂柳小桥, 纸窗竹屋, 焚香燕坐, 手握道书一卷. 客来則寻常茶具, 本色清言. 日暮乃归, 不知马蹄为何物.
Thuỳ liễu tiểu kiều, chỉ song trúc ốc,
phần hương yến toạ, thủ ác Đạo thư nhất quyển. Khách lai tắc tầm thường trà cụ,
bản sắc thanh ngôn. Nhật mộ nãi quy, bất tri mã đề vi hà vật.
(Liễu rủ bên cầu nhỏ, cửa sổ dán giấy
nơi nhà lợp bằng trúc, đốt trầm ngồi lặng yên, tay cầm quyển sách của Đạo gia.
Khách đến dùng bộ đồ trà tầm thường pha để đãi, không nói những lời khách sáo.
Mặt trời lặn ra về, không biết ‘mã đề” là vật gì.)
Mã đề 馬蹄: điển xuất từ thiên “Mã đề” 馬蹄 trong “Trang Tử” 莊子, ví tính tình bị câu thúc ràng buộc.
馬, 蹄可以踐霜雪, 毛可以御風寒, 齕草飲水, 翘翹足而陸, 此馬之真性也. 雖有義臺路寢, 無所用之.
Mã, đề khả dĩ tiễn sương tuyết, mao
khả dĩ ngự phong hàn, hột thảo ẩm thuỷ, kiều túc nhi lục, thử mã chi chân tính
dã. Tuy hữu nga đài lộ tẩm, vô sở dụng chi
(Ngựa, móng của nó có thể giẫm lên
sương tuyết, lông của nó có thể ngăn được gió rét, đói thì ăn cỏ, khát thì uống
nước, giương cao vó mà nhảy nhót, đó chính là thiên tính của ngựa. Đài cao chuồng
rộng đối với chúng cũng chẳng để làm gì.)
Tiễu
nhiên 悄然: im
lìm, lặng lẽ.
Canh
điệt 更迭: thay
phiên nhau
Vũ Di 武夷: tên một ngọn núi ở phía tây bắc tỉnh Phúc Kiến 福建, nơi sản xuất trà Ô Long 烏龍nổi tiếng.
Tạm dịch
Trăng
mới lên
Mây đã
nhạt
Đêm
thu thâm trầm dần trôi qua
Hoa đã
ngủ
Sương móc
nhẹ rơi
Chim kêu đôi ba tiếng
Nước
suối trong
“Mã đề”
chẳng vướng
Xuân hạ
lặng lẽ thay nhau
Bóng
trúc đã dài
Rêu
nơi thềm đã lên xanh
Hương
trà Vũ Di bay đến.
