開元樂
水靜魚容不少
舟寬穗載添多
赤子堯天慶頌
黎民舜日歡歌
KHAI NGUYÊN NHẠC
Thuỷ
tĩnh ngư dung bất thiểu
Chu
khoan tuệ tái thiêm đa
Xích tử
Nghiêu thiên khánh tụng
Lê dân Thuấn nhật hoan ca
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 26/8/2026
Xích
tử 赤子: con
đỏ. Người xưa quan niệm khi bé mới sinh ra, da hãy còn đỏ nên gọi là “xích tử”,
về sau mượn “xích tử” để chỉ bách tính.
Nguyễn Trãi 阮廌 trong “Bình Ngô đại cáo” 平吳大誥 đã viết:
Hân
thương sinh ư ngược diễm
Hãm
xích tử ư hoạ khanh
焮蒼生於虐焰
陷赤子於禍坑
(Nướng
dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi
con đỏ xuống dưới hầm tai vạ)
(Bản dịch
của Trần Trọng Kim)
Lê dân 黎民: chỉ bình dân phổ thông. Trong Thư
– Nghiêu điển 书 - 尧典 có chép:
黎民於变时雍
Lê
dân ư biến thời ung.
(Dân
chúng được sự giáo hoá mà trở nên hoà mục)
Khổng truyện 孔传ghi rằng:
黎, 众也
Lê,
chúng dã.
(Lê
là dân chúng)
Thời cổ, chữ 黎 (lê) thông với chữ 黧 (lê) có nghĩa là màu đen.
Tương truyền, Viêm Đế 炎帝 bị Xi Vưu 蚩尤đánh đuổi chạy đến Trác Lộc 涿鹿, cầu viện Hiên Viên Hoàng Đế 轩辕黄帝. Cả hai kết thành liên minh cùng
đánh Xi Vưu 蚩尤,
và đã đánh bại được Xi Vưu. Người xưa đem số người trong liên minh quân sự này
gọi là “bách tính” 百姓, đem người Cửu Lê 九黎 bắt được, gọi họ là “lê dân” 黎民, để phân biệt với “bách tính” 百姓.
https://baike.baidu.com/item/%E9%BB%94%E9%A6%96/22372044
Ngư 魚: là cá. Chữ ngư 魚, bính âm là “yú” hài âm với chữ dư 餘 bính âm cũng là “yú” với nghĩa là dư thừa dư dả, hàm ý cuộc sống no đủ dư dả.
Tuệ (huệ) 穗: bông lúa, mượn “tuệ” 穗 để chỉ “huệ” 惠 (ơn huệ).
Trong Khổng Tử gia ngữ - Lục bản đệ thập ngũ 孔子家语 - 六本第十五 có đoạn:
孔子曰: 舟非水不行, 水入舟则没. 君非民不治,
民犯上则倾. 是故君子不可不严也,
小人不可不整一也.
Khổng
Tử viết:
(Khổng Tử bảo rằng:
- Thuyền
mà rời khỏi nước thì thuyền sẽ không thể đi được, nước mà vào thuyền thì thuyền
sẽ chìm. Vị quân chủ mà xa rời dân thì không thể trị lí đất nước, dân mà phạm
thượng gây loạn thì sẽ bị diệt vong. Cho nên, quân tử không thể không nghiêm cẩn,
tiểu nhân không thể không chấn chỉnh.)
Khái
niệm “quân chu dân thuỷ” 君舟民水 do Khổng Tử đề xuất, Tuân Tử đã phát triển thêm. Trong Tuân Tử - Vương chế 荀子 - 王制 có đoạn:
Quân giả, chu dã; thứ nhân giả, thuỷ dã. Thuỷ
tắc tái chu, thuỷ tắc phúc chu.
君者, 舟也; 庶人者, 水也. 水则载舟, 水则覆舟.
(Vị
quân chủ là thuyền; bách tính là nước. Nước có thể chở thuyền, mà nước cũng có
lật thuyền)
Nguyễn
Trãi trong bài Quan hải 關海 cũng đã viết:
Phúc chu thuỷ tín
dân do thuỷ
覆舟始信民猶水
(Làm lật thuyền mới tin rằng dân giống như nước)
Tạm dịch
Nước có tĩnh thì cá mới là không
ít
Thuyền có rộng thì lúa mới chở
thêm nhiều
Bách tính sẽ hát tụng tháng ngày
Nghiêu
Dân đen sẽ ngợi ca ngày tháng
Thuấn
