Dịch thuật: Xưng vị tuổi của người xưa (kì 2)

XƯNG VỊ TUỔI CỦA NGƯỜI XƯA
(kì 2)

20 tuổi
Gia quan 加冠: chỉ con trai 20 tuổi. Thời cổ con trai đến 20 tuổi làm lễ gia quan (đội mũ) biểu thị đã thành niên.
Kết phát 结发: thúc phát 束发, vấn tóc lại. Thời cổ con trai đến 20 tuổi vấn tóc đội mũ, con gái 15 tuổi vấn tóc cài kê, biểu thị thành niên. Tiêu chí nam nữ thành niên phân biệt ở “gia quan” 加冠 và “cập kê” 及笄.
Nhược quán 弱冠: con trai đã tròn 20 tuổi. Người xưa lúc 20 tuổi tổ chức “quán lễ” 冠礼 biểu thị thành niên, nhưng thể trạng chưa tráng kiện, cho nên gọi là ‘nhược quán”.
Đào lí niên hoa 桃李年华: nữ 20 tuổi.

24 tuổi
Hoa tín niên hoa 花信年华: nữ 24 tuổi.

30 tuổi
Nhi lập 而立, Nhi lập chi niên而立之年: Khổng Tử 孔子 nói rằng:
          Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tùng tâm sở dục.
          吾十有五而志于学, 三十而立, 四十而不惑, 五十而知天命, 六十而耳顺, 七十而从心所欲.
          (Ta 15 tuổi để chí vào việc học, 30 tuổi có thể tự lập, 40 tuổi không bị sự vật ngoại giới làm mê hoặc, 50 tuổi hiểu được mệnh trời, 60 tuổi đối đãi các loại ngôn luận một cách chính xác, 70 tuổi có thể theo sở dục của lòng mình (mà không vượt khỏi quy củ).)   (Luận ngữ - Vi chính 论语 - 为政)
          Cho nên đời sau gọi 30 tuổi là “nhi lập chi niên” 而立之年.
Thuỷ thất: nam 30 tuổi. Trong Lễ kí – Nội tắc 礼记 - 内则 có ghi:
Tam thập nhi hữu thất, thuỷ lí nam sự
三十而有室,始理男事
(Đến 30 tuổi cưới vợ lập gia đình, bắt đầu công việc của đàn ông)
Khắc tráng 克壮: đương lúc tráng niên. Thời cổ 30 tuổi là tráng. Trong Thập tiệm bất khắc chung sớ 十渐不克终疏 của Nguỵ Trưng 魏征 đời Đường có câu:
Trinh Quán chi sơ, thời phương khắc tráng (1)
贞观之初,时方克壮
(Đầu niên hiệu Trinh Quán, bệ hạ đang ở độ tráng niên)
Bán lão Từ nương 半老徐娘: nữ 30 tuổi

40 tuổi
Bất hoặc不惑, Bất hoặc chi niên 不惑之年: chỉ nam 40 tuổi. Khổng Tử 孔子
nói rằng:
          Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tùng tâm sở dục.
          吾十有五而志于学, 三十而立, 四十而不惑, 五十而知天命, 六十而耳顺, 七十而从心所欲.
          (Ta 15 tuổi để chí vào việc học, 30 tuổi có thể tự lập, 40 tuổi không bị sự vật ngoại giới làm mê hoặc, 50 tuổi hiểu được mệnh trời, 60 tuổi đối đãi các loại ngôn luận một cách chính xác, 70 tuổi có thể theo sở dục của lòng mình (mà không vượt khỏi quy củ).)   (Luận ngữ - Vi chính 论语 - 为政)

50 tuổi
Ngải : Thời cổ gọi người 50 tuổi là “ngải”. Trong Lễ kí – Khúc lễ thượng 礼记 - 曲礼上 có ghi:
Ngũ thập viết ngải
五十曰艾
(50 tuổi gọi là ngải)
Bán bách 半百, Tri thiên mệnh 知天命, Tri mệnh chi niên 知命之年: chỉ 50 tuổi.

60 tuổi
Nhĩ thuận 耳顺, Nhĩ thuận chi niên耳顺之年, Hoàn lịch chi niên 还历之年, Hoa giáp chi niên 花甲之年: đều chỉ 60 tuổi.
Khổng Tử 孔子nói rằng:
          Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tùng tâm sở dục.
          吾十有五而志于学, 三十而立, 四十而不惑, 五十而知天命, 六十而耳顺, 七十而从心所欲.
          (Ta 15 tuổi để chí vào việc học, 30 tuổi có thể tự lập, 40 tuổi không bị sự vật ngoại giới làm mê hoặc, 50 tuổi hiểu được mệnh trời, 60 tuổi đối đãi các loại ngôn luận một cách chính xác, 70 tuổi có thể theo sở dục của lòng mình (mà không vượt khỏi quy củ).)   (Luận ngữ - Vi chính 论语 - 为政)
Cho nên đời sau gọi 60 tuổi là “nhĩ thuận chi niên” 耳顺之年.
Cao linh 高龄: kính từ, xưng tuổi tác của người già, đa phần chỉ 60 tuổi trở lên.
Hoa giáp 花甲: Trung Quốc cổ đại dùng can chi để ghi thời gian, thiên can có 10, địa chi có 12. 10 thiên can và 12 địa chi theo thứ tự phối hợp với nhau thành 60 đơn vị, thông thường gọi là “lục thập hoa Giáp Tí” 六十花甲子 cũng gọi là “hoa giáp” 花甲. Lấy từ ghi thời gian này chuyển dùng để ghi tuổi của người, chính là lấy “niên giới hoa giáp” 年届花甲 hoặc “hoa giáp chi niên” 花甲之年 để chỉ người 60 tuổi.
Hạ thọ 下寿: chỉ 60 tuổi trở lên.
: thời cổ gọi người 60 tuổi là “kì” .
61 tuổi
Hoàn lịch thọ 还历寿: thọ 61 tuổi. Do bởi theo cách tính của can chi, 60 năm là 1 luân (chu kì), 61 tuổi chính là lúc tính từ một luân mới, cho nên gọi là “hoàn lịch” 还历...  
                                                                  (còn tiếp)

Chú của người dịch
1- Đây là câu trong bài Thập tiệm bất khắc chung sớ 十渐不克终疏 của Nguỵ Trưng 魏征đời Đường.
Năm Trinh Quán 贞观thứ 13 đời Đường Thái Tông 唐太宗 (năm 639), Nguỵ Trưng 魏征 thấy Thái Tông những năm gần đây xa xỉ phóng túng, e rằng không thể kiệm ước nên đã dâng tấu chương can gián thẳng, chỉ ra  khuyết điểm ở 10 phương diện mà Thái Tông không thể thiện thuỷ thiện chung, hi vọng Thái Tông sửa chữa những khuyết điểm đó, tiếp tục giữ được tác phong ưu lương của đầu thời Trinh Quán. Nguyên văn của câu là:
Trinh Quán chi sơ, thời phương khắc tráng
贞观之初,时方克壮
            Trong nguyên tác in nhầm tựa bài là “Thị tiệm bất khắc chung sớ” 渐不克终疏và ở câu là:
Trinh Quán chi sơ, thời phóng khắc tráng
贞观之初,时放克壮
          Tôi theo tư liệu này sửa lại.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 28/8/2020

Nguồn