Dịch thuật: Sơ viễn dữ thân cận (Tiểu song u kí)


疏远与亲近
先淡后浓 (1), 先疏后亲 (2), 先达后近 (3), 交友道也 (4).
                                          (小窗幽记)

SƠ VIỄN DỮ THÂN CẬN
          Tiên đạm hậu nùng (1), tiên sơ hậu thân (2), tiên đạt hậu cận (3), giao hữu đạo dã (4).
                                                                           (Tiểu song u kí)

Chú thích
1- Đạm : bình đạm. Nùng : thâm hậu.
2- : sơ viễn. Thân : thân cận.
3- Đạt : tiếp xúc. Cận : thân cận.
4- Đạo : phương pháp.

Dịch nghĩa
SƠ VIỄN VÀ THÂN CẬN
          Trước tiên nên đạm bạc sau đó mới nồng hậu, trước tiên nên sơ viễn sau đó mới thân cận, trước tiên tiếp xúc sau đó mới tương tri, đó là phương pháp kết giao bè bạn.

Phân tích và thưởng thức
          Lỗ Tấn 鲁迅  có nói:
Nhân sinh đắc nhất tri kỉ túc hĩ, tư thế đương dĩ đồng hoài thị chi.
人生得一知己足矣,斯世当以同怀视之.
          (Đời người được một tri kỉ là đủ rồi, xem như anh em ruột mà đối đãi nhau trên thế gian này)
          Xưa qua nay lại, mọi người đều mong được kết giao bạn bè. Nhưng cách kết giao nên từ chỗ cạn mà đến chỗ sâu, điều mà gọi là “tiên trạch nhi hậu giao, tắc quả vưu; tiên giao nhi hậu trạch, cố đa oán”. 先择而后交, 则寡尤; 先交而后择, 故多怨 (trước tiên chọn sau đó mới kết giao thì mới ít lo; còn trước kết giao sau mới lựa chọn cho nên nhiều oán hận). Muốn có được tri kỉ chân chính không hề là việc dễ dàng. “Việc không như ý thường tám chín, còn người có thể cùng chuyện trò không quá hai ba”. Nhân vì lúc bắt đầu kết giao, điều mà ta nhìn thấy thường là vẻ bề ngoài, nếu lúc đó đối xử cởi mở, thường sẽ dẫn đến việc “cát bào đoạn giao” 割袍断交 (1) sau này. Chỉ có trải qua sự quan sát tỉ mỉ và chọn lựa, có nhận thức về nhân cách, sự tu dưỡng, chí thú của đối phương, mới có thể quyết định hợp hay không hợp để làm người bạn chân chính. Đó chính là đạo lí trong việc kết giao, trước tiên phải đạm bạc sau đó mới nồng hậu, trước tiên phải sơ viễn sau đó mới thân cận, trước tiên tiếp xúc sau đó mới tương tri. Nếu có người lần đầu tiên quen biết nhau đã xưng huynh gọi đệ, mọi việc đón đưa, thì rất có khả năng người đó đang mưu tính một mục đích nào đó trong lòng, ta không thể không thận trọng.

Chú của người dịch
1- Cát bào đoạn giao 割袍断交: cùng gọi là “cát bào đoạn nghĩa” 割袍断义, “Quản Ninh cát tịch” 管宁割席, xuất xứ từ câu chuyện “Quản Ninh cát tịch” trong Thế thuyết tân ngữ 世说新语.
    管宁, 华歆共园中锄菜, 见地有片金, 管挥锄与瓦石不异, 华捉而掷去之. 又尝同席读书, 有乘轩冕过门者, 宁读如故, 歆废书出看. 宁割席分坐, : 子非吾友也.
                                                                            (世说新语)
          Quản Ninh, Hoa Hâm cộng viên trung sừ thái, kiến địa hữu phiến kim, Quản huy sừ dữ ngoã thạch bất dị, Hoa tróc nhi trịch khứ chi. Hựu thường đồng tịch độc thư, hữu thừa hiên miện nhi quá môn giả, Ninh độc như cố, Hâm phế thư xuất khán. Ninh cát tịch phân toạ, viết: “Tử phi ngô hữu dã.”
                                                                      (Thế thuyết tân ngữ)
          Quản Ninh và Hoa Hâm cùng cuốc đất trồng rau trong vườn, họ trông thấy dưới đất có một miếng vàng. Quản Ninh vung cuốc không ngừng, xem đó như gạch đá không khác. Hoa Hâm nhặt miếng vàng lên rồi sau mới quăng đi. Hai người thường ngồi chung chiếu đọc sách. Có một vị quan ngồi xe cao 4 bên có buông rèm đi ngang qua cửa. Quản Ninh vẫn cứ đọc sách như cũ, còn Hoa Hâm thì bỏ sách xuống chạy ra ngoài xem. Quản Ninh liền cắt chiếu chia chỗ ngồi, nói rằng: “Ông không phải là bạn của tôi.”
          (Thế thuyết tân ngữ 世说新语, Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002)
          Về sau dùng “cát bào đoạn giao” “cát bào đoạn nghĩa” “Quản Ninh cát tịch” để hình dung việc đoạn giao với bạn bè.

Tiểu song u kí 小窗幽记 là tác phẩm ghi lại những cách ngôn tu thân xử thế do Trần Kế Nho 陈继儒biên soạn, thể hiện thái độ nhân sinh tích cực của nho gia về việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tác phẩm này xưa nay được xem là giai tác về việc tu dưỡng bản thân.
          Toàn sách được chia làm 12 quyển:
     quyển 1: tập tỉnh 集醒     quyển 2: tập tình 集情     quyển 3: tập tiễu 集峭
     quyển 4: tập linh 集灵     quyển 5: tập tố 集素        quyển 6: tập cảnh 集景
     quyển 7: tập vận 集韵     quyển 8: tập kì 集奇        quyển 9: tập ỷ 集绮
     quyển 10: tập hào 集豪   quyển 11: tập pháp 集法  quyển 12: tập thiến 集倩
          Theo http://www.360doc.com/content
                   http://baike.baidu.com/view/147434.htm
          Tiểu song u kí được dùng ở đây do Lôi Phương 雷芳 chú dịch, Sùng Văn thư cục xuất bản năm 2007, sách này  không chia thành 12 quyển như ở trên.

Trần Kế Nho 陈继儒 (1558 – 1639): văn học gia, thư hoạ gia đời Minh, tự Trọng Thuần 仲醇, hiệu Mi Công 眉公, người Hoa Đình 华亭 Tùng Giang 松江 (nay là Tùng Giang Thượng Hải).
Trần Kế Nho lúc nhỏ đã thông minh, ông học rộng biết nhiều, giỏi cả thơ lẫn văn, về thư pháp theo Tô Thức 苏轼, Mễ Phế 米芾 nổi tiếng một thời. Khoảng những năm hai mươi mấy tuổi, ông tuyệt ý với khoa cử, ẩn cư tại Tiểu Côn sơn 小昆山, sau cất nhà tại Đông Xà 东佘 suốt ngày đóng cửa viết sách. Triều đình nhiều lần cho mời nhưng ông đều lấy cớ bệnh tật từ chối.
Trần Kế Nho cả một đời đọc rất nhiều, trứ thuật cũng đồ sộ phong phú. Tác phẩm của ông có Trần Mi Công toàn tập 陈眉公全集  truyền đời.

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 03/11/2017

Nguyên tác
SƠ VIỄN DỮ THÂN CẬN
疏远与亲近
Trong quyển
TIỂU SONG U KÍ
小窗幽记
Tác giả: Trần Kế Nho 陈继儒
Chú dịch: Lôi Phương 雷芳
Sùng Văn thư cục, 2007.
Previous Post Next Post