Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Dịch thuật: Nước Tấn mượn đường nước Ngu đánh nước Quắc

Đăng lúc  23:06  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật

NƯỚC TẤN MƯỢN ĐƯỜNG NƯỚC NGU ĐÁNH NƯỚC QUẮC.

          Năm 658 trước công nguyên (Tấn Hiến Công 晋献公 năm thứ 19), nước Tấn muốn đánh nước Quắc , quan đại phu nước Tấn là Tuân Tức 荀息 dâng chủ ý lên Hiến Công, đem 2 báu vật của Hiến Công tặng cho quốc quân nước Ngu để mượn đường. Tấn Hiến Công có chút chần chừ, Tuân Tức liền giải thích, đó chẳng qua là lấy báu vật từ trong phủ đem ra ngoài phủ. Quốc quân nước Ngu rất tham tiền của, không nhìn thấy được cái nguy ở trước mắt. Quan đại phu Cung Chi Kì 宫之奇 khuyên quốc quân nước Ngu không nên cho nước Tấn mượn đường, để tránh nước Tấn nhìn thấy điểm yếu của nước Ngu. Quốc quân nước Ngu không nghe. Lần đó nước Tấn cũng chỉ là thử nước Ngu, hoàn toàn không tính lấy lợi gì từ nước Ngu.
          Năm 655 trước công nguyên (Tấn Hiến Công năm thứ 22), nước Tấn lại đề xuất yêu cầu mượn đường nước Ngu để đánh nước Quắc. Cung Chi Kì rõ ràng đã ý thức được sự nguy hiểm của việc mượn đường lần này nên nói với quốc quân nước Ngu rằng: lần trước mượn đường đã biết được dã tâm của nước Tấn, tuyệt đối không thể để họ có cơ hội lần thứ hai. Nước Quắc với nước Ngu có mối quan hệ mật thiết như môi với răng, môi hở thì răng cũng lạnh, cũng chính là nói, diệt được một nước trong hai nước, nước còn lại cũng không thể tự bảo vệ được mình. Quốc quân nước Ngu không nghe,còn ngây thơ cho rằng mình tế lễ thần linh rất hậu, nhất định sẽ được thần linh bảo hộ. Kết quả, sau khi nước Tấn diệt nước Quắc, trên đường về thuận tiện diệt luôn nước Ngu. Không cần phải nói, hai báu vật của Tấn Hiến Công trở về lại trong phủ.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                    Quy Nhơn 15/6/2014

Nguyên tác Trung văn
TẤN QUỐC TÁ ĐẠO NGU QUỐC CÔNG KÍCH QUẮC QUỐC
晋国借道虞国攻击虢国
Trong quyển
ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
图文中国通史
(tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

Chia sẻ bài viết

Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
back to top